Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật đáy không xương sống cỡ trung bình (meiobenthos) và đề xuất một số loài có khả năng chỉ thị cho nghiên cứu biến đổi khí hậu ở vùng đất đất ngập nước cửa sông Hồng

Chủ nhiệm đề tài PGS. TSKH. Nguyễn Vũ Thanh
Đơn vị thực hiện Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Thời gian thực hiện 2011 - 2013
Tổng kinh phí 750.000.000,0VND
Xếp loại đề tài Xuất sắc
Mục tiêu đề tài

(i) Có được kết quả nghiên cứu về ĐDSH và Bộ cơ sở dữ liệu về quần xã (chủ yếu là quần xã Nematoda); về quần xã động vật đáy không xương sống cỡ trung bình (ĐVĐKXSTB) - meiobenthos (Copepoda/Harpacticoida, Amphipoda và Polychaeta) ở vùng đất ngập nước cửa sông Hồng
(ii) Đề xuất danh mục một số loài có khả năng chỉ thị cho nghiên cứu biến đổi khí hậu ở vùng đất đất ngập nước cửa sông Hồng

Kết quả đạt được

Về khoa học:
(i) Ở hệ sinh thái cửa sông, rừng ngập mặn, bãi bồi (HSTCS RNM) Vườn Quốc gia Xuân Thủy và cửa sông Hồng đã ghi nhận được 112 loài tuyến trùng biển thuộc 53 giống của 23 họ của 8 bộ, trong đó 1 giống mới - Isocanthonchus Gagarin et Nguyen Vu Thanh, 10 loài mới, trong đó có một loài tuyến trùng ký sinh thực vật mới trên cây ngập mặn.
(ii) Trong RNM (cây Trang), gặp 65 loài tuyến trùng biển, trong đó có 9 giống lần đầu được phát hiện ở Việt Nam; trong bãi bồi ven biển găp 65 loài tuyến trùng, 22 loài trong đó chỉ gặp trong biển gần bờ và bãi triều mà không ghi nhận được ở trong RNM Ba Lạt.
(iii) Trong HSTCS RNM, họ Xyalidae phân bố rất rộng, chiếm tỉ lệ cao nhất về số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong cả hai mùa mưa và khô, với đại diện của 7 giống (21 loài), đặc biệt giống Daptonema không chỉ chiếm số lượng cá thể cao nhất về số lượng cá thể mà còn đa dạng nhất về thành phần loài (12 loài), Họ tuyến trùng với phân bố rộng tiếp theo là họ Leptolaimidae, với 6 giống và 13 loài, kế tiếp là họ Desmodoridae với 6 giống, 10 loài, tiếp theo là họ Comesomatidae với 5 giống, 9 loài; theo sau là các họ Oxystomidae, Chromadoridae với số lượng giống ít hơn.
(iv) Các giống tuyến trùng Curvolaimus, Polygastrophora, Lanzavecchia Chromadora, Prochromadorella, Paracyatholaimus, Croconema, Chromaspirina, Parasphaerolaimus, Eleutherolaimus, Paralinhomoeus, Metalinhomoeus, Southerniella, Desmoscolex, Desmotimmia, Dolichodorus lần đầu được ghi nhận ở khu hệ Việt Nam.
(v) Các kết quả thí nghiệm cho thấy, chiếu sáng 12/24h trong ngày quần xã Meiofaunal phát triển tốt hơn ở chế độ che kín hoàn toàn ; trong giải nhiệt độ 25oC, 30oC và 35oC, quần xã Meiofauna và đặc biệt là quần xã tuyến trùng phát triển tốt hơn ở nhiệt độ 30oC so với nhiệt độ thấp và nhiệt độ cao hơn.. Đối với các nồng độ muối khác nhau: 25%o, 30%o và 35%o chưa nhận thấy sự khác biệt rõ ràng trong quần xã Meiofauna.
(vi) Tại cửa sông Hồng – VQG Xuân Thuỷ đã xác định được 17 loài thuộc 11 giống và 7 họ, chiếm ưu thế về số loài thuộc họ Ampeliscidae, giống Ampelisca. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng loài thường cao vào cuối và đầu mùa khô, thấp hơn ở thời điểm mùa mưa. Mật độ cá thể GXCK tại khu vực sông Trà, sông Vọp có sự phân bố khá đồng đều. Riêng tại cửa Ba Lạt (trạm BL7 bên phía huyện Tiền Hải – Thái Bình) có sự khác biệt, số lượng cá thể ở đây thường cao gấp 2-10 lần so với số lượng cá thể ở các trạm khảo sát khác. Nhóm chiếm ưu thế về mật độ cá thể ở đây thuộc họ Corophiidae, giống Sinocorophium.
(vii) 22 loài GXCB đã được phát hiện, tất cả các loài GXCB đều thuộc 20 giống của 10 họ là: Ameiridae, Canuellidae, Cletodidae, Darcythompsoniidae, Ectinosomatidae, Laophontidae, Miraciidae, Tachidiidae, Cyclopidae và Oncaeidae.
(viii) Dựa trên các mẫu vật đã thu thập, 10 loài GNT đã được xác định thuộc 9 giống, 9 họ, hai phân lớp Polychaeta Errantia và Polychaeta Sedentaria, số lượng loài bắt gặp mới chỉ đạt 15,4 % số loài miền Bắc và 40 % số loài trong khu vực Giao Thủy. Các loài ghi nhận lần này đều nằm trong danh sách loài đã từng phát hiện trước đây.
(ix) Trong số các trạm điều tra nghiên cứu, trạm BL1 ở phía bắc cửa sông Hồng là nơi có số loài GNT tập trung cao nhất (7 loài, chiếm 70% tổng số loài đã ghi nhận) đồng thời cũng có mật độ GNT đạt khá cao (26,6 – 46,7 con/m2). Do vậy trạm BL1 có cơ sở khoa học để chọn làm nơi quan trắc biến đổi khí hậu đạt độ tin cậy cao hơn các địa điểm khác
Về ứng dụng:
(x) Các loài trong giống giống Daptonema có thể được đề xuất sử dụng như sinh vật chỉ thị trong sinh quan trắc và biến đổi môi trường, chúng thường chiếm tỉ lệ áp đảo về số lượng cá thể trong cả hai mùa khô và mùa mưa là Daptonema paraoxyuroides n. sp; Sphaerotherítus validum; Sphaerolaimus maeoticus; Parodontophora obscurus; Sabatieria foetida và Terschelligia lissa Timm, 1962; các loài này cũng có thể được coi như các sinh vật chỉ thị tốt trong nghiên cứu sinh quan trắc và biến đổi môi trường.
(xi) Một số loài Giun nhiều tơ có có khả năng chỉ thị cho nghiên cứu biến đổi khí hậu ở vùng đất ngập nước cửa sông Hồng bởi sự phân bố khá phổ biến và có mật độ khá cao, đó là: Nephthys polybranchía (73,1 con/m2), Prionospio sp. và Capitellethus sp. (đều có 46,7 con/m2).

Những đóng góp mới

(i) Đa dạng sinh học, sinh thái học nhóm Meiofauna (tuyến trùng, giáp xác chân khác, giáp xác chân bên và giun nhiều tơ); nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ muối và thành phần cơ giới trầm tích đáy đến sự phát triển của quần xã Meiofauna và mô tả các taxon mới cho nhóm này là những công việc còn ít được chú ý nghiên cứu trước đây ở Việt Nam
(ii) Một giống mới, 10 loài mới, hơn 20 loài tuyến trùng biển, 22 loài Giáp xác chân bên, 17 loài Giáp xác chân khác đã được mô tả chi tiết và lần đầu bổ sung cho khu hệ Việt Nam.

Sản phẩm

- Các bài báo đã công bố (liệt kê):
(1) Two new species of the genus Ptycholaimellus Cobb, 1920 (Nematoda: Chromadoridae) from coastal zone of North Vietnam sea. Nguyen Vu Thanh, Nguyen Dinh Tu, Gagarin, Tchesunov, Nguyen Thanh Hien. TCSH, 2012, 34 (4): 408-413
(2) A supplement to molecular data for five free-living marine nematode species of the family Comesomatidae Filipjev, 1918 (Nematoda: Chromadorida) from North Vietnam. Nguyen Dinh Tu, Nguyen Thanh Hien, Nguyen Vu Thanh, Phan Ke Long, Tchesunov. TCSH, 2013, 35 (3): 265-271
(3) Thành phần loài tuyến trùng biển ở cửa sông và rừng ngập mặn cửa sông Hồng. HNKHTQ về Sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ V. Nguyễn Vũ Thanh, Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Thanh Hiền, Gagarin. 2013: 702-709
(4) Invasion of free-living marine nematodes in Tien Yen River, Vietnam. 2nd International Scientific and Technical Conference. Far Eastern State Technical Fisheries University, Vladivostok Russia, May 22-24, 2012. 10-18
(5) Three New Species of Nematodes (Nematoda: Enoplida) from coastal Waters of Vietnam. Nguyen Vu Thanh and Gagarin. Russian Journal of marine biology. 2013, 39 (6): 420-428
(6) Description of a new species Thalassomonhystera elegans sp. Nov. (Nematoda, Monhysterida, Monhysteridae) from mangrove of the Red River Delta. Gagarin, Nguyen Vu Thanh. Amurian Zoological Journal,. 2013. 4: 396-400
(7) Two new nematode species of the Genus Daptonema Cobb, 1920 (Nematoda, Xyalidae) from mangrove forest Estuary of the Red River (Vietnam). Nguyen Dinh Tu, Gagarin, Nguyen Vu Thanh, Nguyen Thi Xuan Phuong and Nguyen Thanh Hien. Inland Water Biology. 2014, 7 (2): 125-133.
(8) Dolichodorus orientalis sp. N. (Nematoda, Tylenchida) from mangroves of Vietnam. Gagarin, Nguyen Vu Thanh. Zoological Journal, 2015, 94 (3): 303-310.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".