Nghiên cứu phát triển cây dược liệu mới Vernonia amigdalina Delile (cây lá đắng) tại tỉnh Thừa Thiên Huế và định hướng ứng dụng - Mã số đề tài: VAST.NĐP. 03/17-18

Chủ nhiệm đề tài Phạm Việt Cường
Đơn vị thực hiện Viện Nghiên cứu khoa học miền Trung
Thời gian thực hiện 2017 - 2019
Tổng kinh phí trong đó: 1400 triệu đồng - VAST: 1400 triệu đồng - Bộ, ngành, địa phương: Không
Xếp loại đề tài Xuất sắc
Mục tiêu đề tài

Phát triển cây V. amigdalina tại Thừa Thiên Huế và định hướng sử dụng cây V. amigdalina trong y học phục vụ phát triển kinh tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định thành phần hóa học của dược liệu từ lá cây V.amigdalina và xây dựng dữ liệu sắc ký vân tay cho dược liệu.
+ Đánh giá hoạt tính sinh học của dịch chiết lá V. amigdalina (hoạt tính giảm lượng glucose đường huyết, tăng cường chức năng và giải độc gan, hoạt tính kháng khuẩn…) và sàng lọc các hoạt chất chính có hoạt tính.
+ Đề xuất mô hình thử nghiệm trồng và định hướng phát triển cây dược liệu V. amigdalina tại Thừa Thiên Huế

Kết quả đạt được

Về khoa học:

  • Nội dung 1: Trồng thử nghiệm cây V. Amigdalina tại Thừa Thiên Huế:
    Sau khi trồng thử nghiệm cây lá đắng ở Phong Điền, Phú Vang và Phú Lộc thấy rằng cả 3 vùng sinh thái cây lá đắng đều sinh trưởng và phát triển được. Tuy nhiên cây trồng ở Phong Điền sinh trưởng kém, năng suất sinh khối lá thấp. Sau 6 tháng cây đã phát dục. Vì vậy không nên quy hoạch phát triển cây lá đắng ở Phong Điền. Phú Vang và Phú Lộc cây sinh trưởng tốt gần như nhau, không có sự khác nhau giữa hai vùng này. Vì vậy có thể phát triển trồng cây lá đắng ở phú Vang và Phú Lộc.
  • Nội dung 2: Nghiên cứu thành phần hóa học của mẫu dược liệu
    Từ lá loài lá đắng (Vernonia amgydalina) đã phân lập và xác định cấu trúc 06 hợp chất, thuộc lớp chất C29-steroid và xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho các hoạt chất chính. Đây là lớp chất đặc trưng của loài Vernonia amydalina. Trong đó:
  1. Một hợp chất hoàn toàn mới là (22R,23S,24R,28S)-3β-glucosyl-28-methoxy-7,8,9,11-tetradehydro-21,24-dihydroxy-21,23:22,28-diepoxy-5α-stigmastane (VA7). Hợp chất này chúng tôi đặt tên là: vernomyosit E
  2. Hai hợp chất lần đầu tiên phân lập được từ tự nhiên là (22R,23S,24R,28S)-28-methoxy-7,8,9,11-tetradehydro-3β-16α,21,24-trihydroxy-21,23:22,28-diepoxy-5α-stigmastane (VA4) được đặt tên là vernomyosit C và (23S,24R,28S)-3β,22α-dihydroxy-7,8,9,11-tetradehydro-24,28-epoxy-5α-stigmastane-21,23 carbolactone (VA11) đươch đặt tên là vernomyosit C1.
  3. Ba hợp chất đã biết khác là vernoniacum B (VA5), vernonioside B1 (VA9), vernonioside B2 (VA10).
  4. Như vậy đề tài đã vướt so với đằg ký 3 chất vượt 100%
  • Nội dung 3: Xây dựng bộ dữ liệu Dấu vân tay sắc ký HPLC cho dược liệu
    - Đã đưa ra điều kiện phân tích, tạo dữ liệu dấu vân tay sắc ký, xây dựng đường chuẩn cho định lượng cho 5 hợp chất chính được phân lập từ lá cây lá đắng tại Thừa Thiên Huế.
    - Đã định lượng và so sánh hàm lượng hoạt chất trong mẫu dược liệu các mẫu trồng ở địa điểm khác nhau. Thấy rằng hàm lượng các chất tham chiếu ở Phú Vang là cao nhất VA5 là 0,56 VA 10 là 0,27 µg/mL
  • Nội dung 4: Đánh giá hoạt tính sinh học của dịch chiết lá
    a) Đánh giá hoạt tính in vitro địch chiết lá
    - Đã đánh giá được hoạt tính gây độc tế bào trên hai dòng tế bào Hep3B và MCF-7. Kết quả đánh giá cho thấy cao Lá đắng có thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ưng thu gan người Hep3B (IC50 = 114,82 ± 2,13 µg/mL) và tế bào ung thư vú người MCF-7 (IC50 = 123,03 ± 1,27 µg/mL).
    - Cao MeOH Lá đắng có thể hiện hoạt tính kháng viêm thông qua thử nghiệm ức chế sản sinh NO trên dòng tế bào đại thực bào chuột RAW264.7, ở nồng độ 100 µg/mL với % ức chế là 61,56 ± 0,66%.
    - Cao MeOH Lá đắng có hoạt tính ức chế enzyme α-amylase và enzyme α-glucosidase với giá trị IC50 lần lượt là 0,64 ± 0,12 mg/mL và 1,78 ± 0,31 mg/mL.
    b) Đánh giá hoạt tính in vitro của chất phân lập được
    Ba chất sạch phân lập được gồm VA5, VA7, VA10 đã được thử nghiệm hoạt tính ức chế enzyme α-amylase và enzyme α-glucosidase. Hợp chất VA7 thể hiện hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase mạnh hơn cả chất chuẩn dương acarbose, đồng thời cũng có hoạt tính ức chế α-amylase tương đối rõ rệt. Hợp chất VA5 và VA10 có hoạt động ức chế enzyme α-amylase trung bình với giá trị IC50 được xác định lần lượt là 83,17 µg/mL và 87,09 µg/mL.
  • Nội dung 5: Xây dựng mô hình trồng cây thuốc V. Amigdalina tại Thừa Thiên Huế
    Đã xây dựng được mô hình trồng cây thuốc V. Amigdalina tại phú Vang Thừa Thiên Huế.
    - Cây lá đắng phát triển tốt, cho năng suất sinh khối lá cao 43,4 tấn/ha đối với lô chặt thân sau 3 tháng trồng và 30,4 tấn/ha với không chặt cây tăng 142,76% so với không chặt.
    - Cao Lá đắng có biểu hiện ức chế hoạt động của enzyme α-glucosidase tốt ở nồng độ 2 mg/ml, enzyme α-amylase tốt từ nồng độ 1 mg/mL
    - Với động vật thực nghiệm là chuột, cao chiết MeOH mô hình Phú Vang ở mức liều 400 mg/kg thể trọng/ngày đã làm giảm mức đường huyết. 

Một số hình ảnh của đề tài:

T9.89.pvcuong1

T9.89.pvcuong2

T9.89.pvcuong3

Những đóng góp mới

Lần đầu tiên nghiên cứu khã năng di thực cuat cây lá đắng vào Thừa Thiên Huế và cây lá đắng phát triển tốt ở vùng này. Lần đầu tiên nghiên cứu phân lập được các chất tham chiếu của cây lá đắng và phất hiện được 3 chất mới phân lập từ thực vật củng như đánh giá hoạt tính của cao chiết và chất chính phân lập được.

Sản phẩm

Các bài báo đã công bố (liệt kê)
01 bài báo quốc tế thuộc ISI tạp chí Naturel Product Reasach đã được đăng

  1. “In vitro study on α-amylase inhibitory and α-glucosidase of a new stigmastane-type steroid saponin from the leaves of Vernonia amygdalina” Hoang Le Tuan Anha,b,1, Le Ba Vinhd,e,1, Le Thi Liena,b, Pham Viet Cuonga,*, Masayoshi Araic, Tran Phuong Haa, Hoang Ngoc Lina, Ton That Huu Data, Le Canh Viet Cuonga, Young Ho Kimd,*

02 bài báo trên tạp chí trong nước

  1. Sterols and flavone from the leaves of Vernonia amygdalina Del. growing in Thua Thien Hue. Hoang Le Tuan Anh 1,2,*, Le Thi Lien 1,2, Pham Viet Cuong 1, Masayoshi Arai 3, Tran Phuong Ha 1, Ton That Huu Dat 1, Le Canh Viet Cuong 1. Vietnam Journal of Science and Technology, 56(6): 681-687, 2018.
  2. Cây lá đắng (Vernonia amygdalina Del) và hoạt tính sinh học. Nguyễn Khoa Hiền, Hoàng Phan Diễm Trân, Hoàng Lê Tuấn Anh, Phạm Việt Cường. Tạp chí Công Thương 412-419 số 14 - 11/2018

Các bằng sáng chế, giải pháp hữu ích (liệt kê)

  • Đã nộp đơn và hồ sơ sáng chế tại Cục sở hữu trí tuệ và có QĐ chấp nhận đơn: Hợp chất Vernoamyosit E và phương pháp chiết hợp chất này từ cây lá đắng (V. Amigdalina)

Các sản phẩm cụ thể (mô tả sản phẩm, nơi lưu giữ)

  • Cao chiết lá đắng
  • 06 chất phân lập từ cây lá đắng : 03 chất mới vernomyosit E (VA7), vernomyosit C1 (VA4)vernomyosit C(VA11) và 03 hợp chất đã biết khác là vernoniacum B (VA5), vernonioside B1 (VA9), vernoniosideB2 (VA10).
  • Báo cáo tổng kết đề tài

Các sản phẩm hiện đang lưu tại Viên nghiên cứu khoa học Miền Trung

Kiến nghị

Ti?p t?c nghiên c?u ti?p ?? xây d?ng quy trình công ngh? s?n xu?t s?n ph?m th?c ph?m ch?c n?ng ??a ra th? tr??ng

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".