Góp phần đánh giá chất lơ lửng và các chất C, N, P, Si trong nước vùng hạ lưu sông Hồng

Chủ nhiệm đề tài TS. Phùng Thị Xuân Bình
Đơn vị thực hiện Học viện Khoa học công nghệ
Thời gian thực hiện 2018 - 2019
Thuộc chương trình Sau tiến sỹ tạo nguồn lực khoa học công nghệ cho Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam
Cán bộ tham gia
Tổng kinh phí 60 triệu đồng
Xếp loại đề tài Khá
Mục tiêu đề tài

- Xác định chất lượng nước vùng hạ lưu sông Hồng, đoạn sông từ Hà Nội tới Ba Lạt. Đánh giá mức độ chất dinh dưỡng trong nước vùng hạ lưu sông Hồng;
- Xác định ảnh hưởng của hồ chứa thủy điện vùng thượng nguồn sông Hồng tới chuyển tải cát bùn lơ lửng và các chất dinh dưỡng gắn kết (C, N, P và Si) trong nước vùng hạ lưu sông Hồng giai đoạn gần đây (2010 – 2018).

Kết quả đạt được

Quan trắc chất lượng nước:
- Hàm lượng trung bình của các chất dinh dưỡng nhìn chung thấp hơn giá trị cho phép của quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước mặt (QCVN 08: 2015/BTNMT, cột A1). Hàm lượng NO3- và silic hòa tan (DSi) thay đổi đáng kể theo chiều dọc từ Hà Nội đến Ba Lạt (6,62 mg/l đến 1,19 mg/l đối với NO3- và 5,21 mg/l đến 2,14 mg/l đối với DSi), trong khi hàm lượng NO2- tăng rõ rệt theo chiều dọc sông, đặc biệt là từ điểm SH6 (Xuân Trường, Nam Định) nơi độ mặn bắt đầu tăng do ảnh hưởng của thủy triều
Đánh giá mức dinh dưỡng:
- Mức dinh dưỡng sông Hồng có xu hướng tăng từ điểm SH1 (Hà Nội) đến điểm SH5 (Nam Định), phản ánh sự gia tăng dinh dưỡng ngoại lai của đoạn sông này, trong khi mức dinh dưỡng có xu hướng giảm từ điểm SH6 đến cửa biển do sự pha loãng của nước biển. Nhìn chung, nước sông Hồng được xếp ở mức trung dưỡng (Mesotrophy)
Tác động của hồ chứa tới cát bùn lơ lửng (SS):
+ Hàm lượng SS trong thời gian gần đây của hệ thống sông Hồng dưới tác động của việc xây dựng hàng loạt hồ chứa mới ở cả Trung Quốc và Việt Nam trong giai đoạn 2010s có sự suy giảm rõ rệt so với thời kỳ trước đây (1960s) khi chưa có hồ chứa được xây dựng.
+ Tải lượng SS của hệ thống sông Hồng đổ ra biển đã giảm đáng kể từ 44.106 ± 24.106 tấn/năm (tương đương 284 ± 153 tấn/km2/năm) trong giai đoạn 2000s xuống còn 6.106 ± 1.106 tấn/năm (tương đương 38 ± 6 tấn/km2/năm) trong năm 2010s.
Tác động của hồ chứa tới các chất gắn kết (C, N, P, Si):
Các mối liên hệ giữa hàm lượng cát bùn lơ lửng và hàm lượng cacbon, nitơ, phốtpho và Silic trong nước sông Hồng đã được xác định. Theo đó, hàm lượng cacbon hữu cơ không tan, nitơ hữu cơ không tan, Phốtpho tổng số trong nước sông Hồng đã được xác định, đồng thời tính toán được tải lượng các chất tương ứng. Kết quả cho thấy việc xây dựng hàng loạt hồ chứa trên sông Hồng làm giảm rõ rệt hàm lượng và tải lượng các chất gắn kết như N, P, C. Cần lưu ý rằng trong giai đoạn 1960s -2010s, gia tăng dân số và gia tăng phá rừng trong lưu vực sông Hồng đã được quan sát thấy rõ rệt. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt của các hồ chứa trong việc lưu giữ cát bùn lơ lửng và các chất dinh dưỡng gắn kết, làm suy giảm nghiêm trọng tải lượng TSS và các chất dinh dưỡng của hệ thống sông Hồng đổ ra biển.
Cảnh báo: Suy giảm tải lượng TSS, TP, TON và TOC của sông Hồng có thể tạo ra ảnh hưởng khác nhau (gia tăng xói mòn, nhiễm mặn đất canh tác, giảm chất dinh dưỡng cung cấp ra ven biển có thể ảnh hưởng tới hệ sinh thái) ở vùng cửa sông, ven biển. Vì vậy cần thực hiện một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trường và sinh thái vùng hạ lưu, ven biển.

Những đóng góp mới

Đề tài góp phần đánh giá thay đổi về hàm lượng và tải lượng chất lơ lửng và các chất gắn kết C, N, P, Si trong nước sông Hồng trong giai đoạn hiện nay do tác động của các hồ chứa, đập thủy điện phía thượng nguồn. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt của các hồ chứa trong việc lưu giữ cát bùn lơ lửng và các chất dinh dưỡng gắn kết, làm suy giảm nghiêm trọng tải lượng TSS, TON của hệ thống sông Hồng đổ ra biển. Và vì vậy, cần thực hiện một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trường và sinh thái vùng hạ lưu, ven biển.

Sản phẩm

1. Phung Thi Xuan Binh, Le Thi Phuong Quynh, Le Nhu Da, and Duong Thi Thuy, 2017, Recent change (2010 – 2015) of total suspended solids fluxes of the Red River: impact of dam/reservoir impoundment in the upstream river basin, Kỷ yếu Hội nghị ECSS lần thứ 3 , ngày 7 - 10 tháng 11 năm 2017, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam, The third International Conference on Estuarine, Coastal and Shelf Studies – ECSS2017, ISBN:978-604-73-5521-1, page 177 – 191,
2. Phung Thi Xuan Binh, Le Nhu Da, Le Thi Phuong Quynh, Hoang Thi Thu Ha, Duong Thi Thuy, Le Thi My Hanh, 2018, Assessment of longitudinal variation of trophic levels of the Red River water, the section from Hanoi city to Ba Lat estuary, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 18(4), 452–459, DOI: 10,15625/1859-3097/18/4/13663, http://www,vjs,ac,vn/index,php/jmst, (ISSN: 1859-3097),
Le Nhu Da, Le Thi Phuong Quynh, Phung Thi Xuan Binh, Hoang Thi Thu Ha, Duong Thi Thuy and Le Thi My Hanh, 2019, Longitudinal variation of water quality of the downstream Red River, section from Hanoi city to Ba Lat estuary, Vietnam – Japan Science and Technology Symposium – Towards sustainable Development proceedings (VJST2019) Hanoi May 4 2019, page 70-75. ISBN:978-604-913-812-6.

*Kiến nghị: Đề nghị mở rộng hướng nghiên cứu xác định ảnh hưởng của hồ chứa tới môi trường sinh thái hạ lưu, cửa sông ven biển sông Hồng.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".