Nghiên cứu những luận cứ khoa học làm cơ sở cho vấn đề khai thác nguồn nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt vùng ven biển Bán đảo Cà Mau trong điều kiện nước biển dâng do biến đổi khí hậu

Chủ nhiệm đề tài Đặng Hòa Vĩnh
Đơn vị thực hiện Viện Địa lý Tài nguyên TP.HCM
Thời gian thực hiện 2012 - 2014
Tổng kinh phí 600.000.000đ
Xếp loại đề tài Đạt
Mục tiêu đề tài

Nghiên cứu các cơ sở khoa học cho vấn đề khai thác nguồn nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt vùng ven biển Bán đảo Cà Mau trong điều kiện biến đổi khí hậu - mức nước biển dâng:
- Nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác nguồn nước mặt (nước mưa, nước mặt) phục vụ cấp nước sinh hoạt trong điều kiện hiện tại và biến đổi khí hậu - mức nước biển dâng.
- Nghiên cứu các biện pháp khai thác và tích trữ nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt cho vùng ven biển Bán đảo Cà Mau.

Kết quả đạt được

- Về khoa học:
- Đề tài đã phân tích các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và các vấn đề có liên quan đến tích trữ, khai thác nguồn nước ngọt BĐCM từ đó chỉ ra được: BĐCM là loại đồng bằng ven rìa. Một bộ phận đất đai còn nằm ở tình trạng đồng lầy, điển hình là khu vực rừng U Minh. Những đồng lầy nhỏ phân bố ở vùng trung tâm bán đảo. Khả năng cung cấp nước ngọt cho vùng BĐCM là khó khăn. Trong điều kiện hiện tại nước ngọt chỉ vào tới Ninh Quới, khả năng đi xa hơn là rất hạn chế. Do đó, kế hoạch sản xuất trong các vùng ngọt hoá đã phải thay đổi bằng cách điều khiển hệ thống công trình để cung cấp nước mặn cho nuôi tôm. Hiện nay, nguồn nước mặn xâm nhập vào vùng BĐCM đã được khống chế thông qua các công trình điều khiển phục vụ sản xuất.
- Hiện nay nước dưới đất là nguồn nước chính phục vụ cho các đối tượng dùng nước ở BĐCM. Nước dưới đất ở BĐCM đang bị suy giảm nghiêm trọng. Cà Mau là tỉnh sử dụng nước dưới đất và cũng là nơi tốc độ sụt giảm mạnh nhất. Đặc biệt nghiêm trọng là tốc độ sụt giảm các tầng sâu nơi hoạt động của các giếng tập trung đã diễn ra với tốc độ rất nhanh. Nguy cơ cạn kiệt nguồn nước dưới đất ở Cà Mau là rất rõ ràng.
 Phân tích số liệu thực đo, và sử dụng mô hình thuỷ lực mô phỏng chế độ mặn trên sông Hậu đề tài đã rút ra:
- Trên sông Hậu ranh giới mặn 4‰ trung bình khoảng 33km, vượt quá Đại Ngãi. Ranh giới mặn 1‰ khoảng 58km, gần tới An Lạc Thôn. Tuy nhiên, mặc dù trong vùng nhiễm mặn nhưng vẫn có nhiều thời gian xuất hiện nước ngọt trên sông. Tại An Lạc Tây hầu như ngày nào cũng có xuất hiện nước ngọt. Tại Đại Ngãi vào những năm ít nước, có khoảng 2 tháng không xuất hiện nước ngọt. Tại Long Phú thời gian không có ngọt thường kéo dài từ 2 - 5 tháng, năm không có ngọt dài nhất kéo dài 4-5 tháng. Ra tới Mỹ Thanh trong mùa khô hoàn toàn không có xuất hiện nước ngọt.
- Theo kết quả tính toán thuỷ lực cho năm 2005, đầu tháng 2 nước ngọt về cách biển khoảng 19km, tháng 3 cách biển 33km (quá Đại Ngãi). Ranh giới luôn có nước ngọt vượt quá nhánh sông Trần Đề tới gần vàm Nhơn Mỹ. Đầu tháng 5 nước ngọt bắt đầu trở lại với khoảng cách 33km. Thời gian không có ngọt lâu nhất tại Đại Ngãi là 72 ngày (28/2/2005 - 12/5/2005). Trong trường hợp nước biển dâng 50cm, vào thời kỳ đầu tháng 2 ranh giới nước ngọt vẫn rút ra cách biển khoảng 21km. Sâu hơn 2km so với trường hợp hiện trạng năm 2005. Thời kỳ kiệt nhất (Đầu và giữa tháng 4), ranh giới này vượt quá vàm Nhơn Mỹ khoảng hơn 2km. Đầu tháng 3 ranh giới có ngọt lui vào tận Nhơn Mỹ (40km). Đầu tháng 5 nước ngọt cách Đại Ngãi 5km. Tại vàm Đại Ngãi khoảng thời gian từ đầu tháng 3 cho tới đầu tháng 5 hoàn toàn không có nước ngọt. Thời gian không có ngọt lâu nhất tại Đại Ngãi là 77 ngày.
- Trong vùng BĐCM, ranh giới xâm nhập mặn đi theo hệ thống phân ranh mặn – ngọt. Tại các vùng sản xuất mặn hầu như chịu tác động mặn suốt mùa. Trong các vùng ngọt hoá, xâm nhập mặn với độ mặn nhỏ hơn 4‰ vẫn xuất hiện trong mùa khô tuỳ theo thời gian. Vào tháng 1 tất cả các vùng ngọt hoá vẫn đảm bảo an toàn, tháng 2 vùng ngọt hoá Tiếp Nhật bắt đầu bị ảnh hưởng nhưng chỉ ở mức 0.5‰. Tháng 3, 4 toàn bộ vùng Tiếp Nhật chịu tác động mặn trên 0.5‰. Các vùng ngọt hoá khác vào tháng 4 mới chịu tác động mặn trên 0.5‰. Trong điều kiện NBD 50cm, lưu lượng nước ngọt từ sông Hậu chuyển vào vùng BĐCM tăng 24%. Nhờ đó xâm nhập mặn ở các khu vực cuối vùng canh tác ngọt được cải thiện nhiều. Những vùng tác động xấu là khu vực ven sông Hậu, chưa có các công trình kiểm soát mặn. Các vùng ngọt hoá khác không bị tác động.
- Trên cơ sở phân tích các đặc trưng lượng mưa năm, lượng mưa tháng 4, ngày xuất hiện và kết thúc mưa đề tài đã xây dựng sơ đồ đánh giá khả năng khai thác nước mưa cho vùng BĐCM. Đây là cơ sở cho việc xây dựng mô hình khai thác nước mưa phục vụ sinh hoạt.
- Trên cơ sở sơ đồ phân vùng thuỷ lợi, sơ đồ phân bố khả năng lan truyền nước ngọt từ sông Hậu, khả năng khai thác nước mưa, tác động của NBD tới xâm nhập mặn đề tài đã xây dựng sơ đồ đánh giá tiềm năng khai thác tài nguyên nước mặt phục vụ sinh hoạt. Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất định hướng khai thác tài nguyên nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt cho từng vùng cụ thể.

- Về ứng dụng:
- Đề tài đã đề xuất mô hình khai thác nước mưa. Đặc biệt là các cải tiến về xây dựng bể chứa với giá thành rẻ, và công nghệ tách nước bẩn đầu vụ. Đây là mô hình có thể triển khai rộng rãi cho các hộ dân riêng lẻ.
- Bằng việc phân tích khả năng xuất hiện nước ngọt, điều tra các vùng đất ngập nước ven sông Hậu, đề tài đã đề xuất mô hình khai thác nguồn nước ngọt trên sông Hậu cung cấp nước cho các huyện Long Phú, Trần Đề. Với tổng diện tích mặt nước 24.17ha, dung tích hữu ích 896.000m3 hệ thống đề xuất có thể cung cấp nhu cầu dùng nước 22.256m3/ngày cho 2 huyện.

Những đóng góp mới

- Phân tích khả năng xuất hiện ngọt trong vùng mặn là một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về xâm nhập mặn. Trước đây khi nghiên cứu về xâm nhập mặn thường chúng ta phân tích, đánh giá những giá trị độ mặn cao để tìm biện pháp phòng tránh. Trong nghiên cứu này đề tài đã chủ động đi tìm những thời điểm độ mặn thấp nhất để tìm biện pháp khai thác.
- Đề xuất sử dụng hệ thống đất ngập nước để điều tiết, tích trữ nước ngọt phục vụ sinh hoạt là một vấn đề mới ở ĐBSCL. Nếu được chấp thuận, đây sẽ là một hướng mới trong vấn đề cung cấp nước sinh hoạt không chỉ cho BĐCM mà còn cho cả ĐBSCL. Đặc biệt ý tưởng này giúp cho chúng ta dễ dàng thích nghi với những tác động của NBD do BĐKH.

Sản phẩm

- Các bài báo đã công bố (liệt kê):
Đặng Hoà Vĩnh, Phạm Thị Bích Thục, 2014: Đặc điểm mưa vùng bán đảo Cà Mau và vấn đề khai thác phục vụ sinh hoạt – Hội nghị Khoa học Địa lý lần thứ 8 – Quyển 1
- Các bằng sáng chế, giải pháp hữu ích (liệt kê)
- Các sản phẩm cụ thể (mô tả sản phẩm, nơi lưu giữ):
+ Sơ đồ phân bố tiềm năng nước ngọt ở BĐCM
+ Sơ đồ phân vùng đánh giá khả năng khai thác nước mưa
+ 02 mô hình khai thác tích trữ tài nguyên nước ngọt cho các vùng điển hình. Trong đó: 01 mô hình khai thác nước mưa với cải tiến công nghệ tách nước bẩn đầu trận và công nghệ xây dựng bể chứa với giá thành hạ; 01 mô hình khai thác nguồn nước ngọt sau vàm Đại Ngãi nhằm cung cấp nước cho 2 huyện Trần Đề và Long Phú.
+ Sơ đồ các vùng đất ngập nước có thể cải tạo thành khu vực tích trữ nguồn nước phục vụ sinh hoạt
+ Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài trong đó có nêu rõ các đề xuất giải pháp khai thác nguồn nước cung cấp cho mục đích sinh hoạt ở từng khu vực.

Địa chỉ ứng dụng

- Đề nghị chuyển giao mô hình khai thác nguồn nước ngọt sau vàm Đại Ngãi cho Công Ty TNHH Một thành viên Cấp Nước Sóc Trăng hoặc Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng.
- Đề nghị chuyển giao mô hình khai thác nước mưa cho Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh thuộc BĐCM.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".