Nghiên cứu sự tích tụ chất thải ô nhiễm hữu cơ dạng vết (PAHs, PCBs) trong môi trường nước, trầm tích, sinh vật vùng biển ven bờ, đề xuất giải pháp quản lý và ngăn ngừa nguy cơ tích tụ trong môi trường biển (3 vùng trọng điểm Bắc, Trung, Nam).

Chủ nhiệm đề tài TS. Dương Thanh Nghị
Đơn vị thực hiện Viện Tài nguyên và Môi trường biển
Thời gian thực hiện 2008 - 2009
Tổng kinh phí 400 triệu đồng
Mục tiêu đề tài
  • Xây dựng bộ tư liệu cơ bản về đặc điểm phân bố và quy mô, mức độ tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ  bền dạng vết (PAHs, PCBs) vào môi trường nước, trầm tích và cơ thể sinh vật trong các vùng biển ven bờ (một số vùng trọng điểm trong đó có vùng Tây Vịnh Thái Lan).
  • Đề xuất các giải pháp quản lý ngăn ngừa và giảm thiểu khả năng tích lũy gây ô nhiễm của các hợp chất này trong sinh vật và trầm tích.
    Mặt khác, góp phần đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với Công ước Stockholm và thực hiện quyết tâm của chính phủ Việt Nam cam kết cùng với các quốc gia trên Thế giới bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Nội dung đề tài
  • Thu thập, tổng hợp số liệu, các kết quả đã công bố về PAHs và PCBs trong môi trường biển ven bờ khu vực nghiên cứu.
  • Khảo sát tổng quan điều kiện tự nhiên, thu thập tài liệu kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu và xác định khả năng phát thải chất ô nhiễm hữu cơ bền PAHs và PCBs vào môi trường.
  • Tiến hành khảo sát và thu mẫu môi trường nước, trầm tích mặt và một số sinh vật vùng biển ven bờ các khu vực nghiên cứu trong mùa mưa tháng 08 năm 2008 và mùa khô tháng 02 năm 2009.
  • Thực hiện phân tích chất ô nhiễm hữu cơ bền dạng vết PAHs và PCBs trong mẫu nước, trầm tích và sinh vật theo chương trình kiểm soát và đảm bảo chất lượng.
  • Đánh giá phân bố khả năng tích tụ chất ô nhiễm hữu cơ bền dạng vết PAHs và PCBs trong ba hợp phần môi trường nước, trầm tích và cơ thể sinh vật biển ven bờ.
  • Tổng hợp các tiêu chuẩn môi trường, luật và chính sách quản lý, công nghệ xử lý chất ô nhiễm hữu cơ bền đã có ở Việt Nam.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn ngừa nguy cơ tích tụ chất ô nhiễm hữu cơ  bền PAHs và PCBs vào môi trường biển ven bờ Việt Nam, phục vụ mục tiêu thực hiện công ước Stockholm và phát triển bền vững.
Kết quả đạt được

 Sau hai năm thực hiện, tập thể tác giả rút ra một số kết luận sau:

  1. Phương pháp đánh giá chất ô nhiễm hữu cơ bền dạng vết PAHs và PCBs.
    Đề tài đã thực hiện thành công việc phát triển và áp dụng hai quy trình phân tích hợp chất ô nhiễm hữu cơ bền dạng vết PAHs, PCBs trong mẫu nước, trầm tích và sinh vật hai mảnh vỏ của biển ven bờ với hiệu suất thu hồi cao. Giới hạn phát hiện của phương pháp khoảng 1ppb với PCBs, 1ppm với PAHs. Độ chính xác và độ tin cậy cao thông qua quy trình kiểm soát và đảm bảo chất lượng (QA/QC), phân tích PCBs liên phòng với 7 phòng thí nghiệm Việt Nam, 1 phòng thí nghiệm Thụy Sỹ (Bachema) để kiểm chuẩn cho phương pháp phân tích.
    Áp dụng các quy trình tối ưu hóa này, bước đầu đề tài đã tiến hành phân tích các chất ô nhiễm hữu cơ bền dạng vết PAHs, PCBs trong mẫu nước, mẫu trầm tích mặt, và mô thịt một số sinh vật thu được trong mùa mưa 08/2008 và mùa khô tháng 02/2009 ở các vùng biển ven bờ trọng điểm Việt Nam là: Vịnh Hạ Long, Tam Giang - Cầu Hai, Vũng Tàu và Tây Vịnh Thái Lan.
  2. Phân bố chất ô nhiễm hữu cơ bền trong môi trường biển ven bờ Việt Nam.
    Kết quả phân tích PAHs, PCBs trong mẫu mùa mưa và mùa khô ở các vùng biển ven bờ cho thấy các hợp chất ô nhiễm này tăng dần theo các đối tượng mẫu nước, trầm tích và sinh vật.
    Chất ô nhiễm PAHs tập trung chủ yếu ở vùng biển ven bờ Quảng Ninh là Vịnh Hạ Long và ở Kiên Giang là Tây Vịnh Thái Lan. Hai khu vực này cũng là hai vùng có nhiều nguồn phát thải ô nhiễm PAHs như khai thác mỏ than, khu kinh tế ven biển, quá trình phát thải khói của ghe thuyền đánh bắt cũng như hoạt động của các tuyến hàng hải quốc tế.
    Chất ô nhiễm PCBs trong cả ba hợp phần đều tập trung ở hai vùng biển ven bờ là Vịnh Hạ Long và Tây Vịnh Thái Lan. PCBs là một hợp chất có nhiều ứng dụng trong công nghiệp như dầu biến thế, lõi tụ điện và các sản phẩm chống thấm, chống cháy... cùng với đặc tính bán phân hủy lâu dài thì nó sẽ còn tích tụ nhiều ở hai Vịnh này.
  3. Tích tụ sinh học của PAHs và PCBs trong biển ven bờ Việt Nam.
    Đề tài đã áp dụng tính hệ số tích tụ sinh học (BAF) chất ô nhiễm hữu cơ  bền PAHs và PCBs với sinh vật biển ven bờ, sống trong môi trường nước và sống trong môi trường đáy (trầm tích).
    Kết quả tính hệ số tích tụ PAHs thấp nhất là 1,65 ở ngao Vũng Tàu, cao nhất là 413,79 với cá Vịnh Hạ Long. So sánh khả năng tích tụ PAHs của ba loài sinh vật biển ven bờ các vùng trọng điểm cho thấy PAHs tích tụ chủ yếu trong tôm và cá.
    Kết quả tính hệ số tích tụ PCBs thấp nhất là 0,19 ở tôm Hạ Long, cao nhất là 49,43 với ngao Kiên Giang. PCBs tích tụ chủ yếu trong sinh vật hai mảnh vỏ, ngao ở các vùng biển ven bờ từ Hạ Long đến Kiên Giang. Hệ số tích tụ PCBs cũng thể hiện dấu hiệu tích lũy trong cá và tôm ở các vùng biển ven bờ này.
    Xu hướng tích tụ biến thiên khác nhau giữa hai hợp chất ô nhiễm hữu cơ bền dạng vết PAHs và PCBs trong môi trường biển ven bờ. Hệ số tích tụ sinh học của PAHs trung bình các vùng tăng dần từ ngao là 7,96 đến cá là 298,67. Ngược lại, hệ số tích tụ sinh học của PCBs trung bình vùng từ ngao 33,71 đến cá là 2,94.
  4. Các vùng biển ven bờ có khả năng tích tụ PAHs và PCBs.
    Các khu kinh tế (KKT) ven biển sẽ là những hạt nhân góp phần hình thành các khu kinh tế năng động, thúc đẩy sự phát triển chung, nhất là đối với các vùng nghèo ở các vùng ven biển của Việt Nam. Tuy nhiên, các KKT ven biển này sẽ là những điểm có nguy cơ phát thải các chất ô nhiễm hữu cơ bền trong đó có PAHs, PCBs. Như vậy, khả năng tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ bền PAHs và PCBs trong môi trường biển ven bờ sẽ là các vũng, vịnh, đầm phá và cửa sông ven biển như: Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long - Cát Bà; Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai; Vũng Tàu và Tây Vịnh Thái Lan.
  5. Tình hình quản lý chất ô nhiễm hữu cơ bền PAHs và PCBs ở Việt Nam.
    Việt Nam là một trong số  những nước ký Công ước Stockholm (ngày 23/5/2002) và ngày 22/7/2001, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này. Tính đến nay đã có 172 nước tham gia ký Công ước và Công ước đã có hiệu lực kể từ ngày 17/5/2004.
    Mục tiêu cơ bản là xây dựng được một hệ thống các giải pháp, bao gồm chính sách, thể chế, tổ chức đến các biện pháp kỹ thuật, các hành động cụ thể để đánh giá chính xác, quản lý chặt chẽ, giảm thiểu các nguồn phát sinh POPs và từng bước loại trừ nó hoặc thay thế nó trong môi trường sống.
    Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ 184, đến nay, Việt Nam đã cấm sử dụng 9/12 thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là các chất hữu cơ độc hại. Đồng thời, phòng ngừa, kiểm soát và xử lý an toàn đối với các chất này; tiến tới kiểm soát, xử lý và tiêu hủy hoàn toàn các kho thuốc BVTV - những hóa chất rất độc hại đã bị loại bỏ, còn tồn lưu vào năm 2010.
    Kế hoạch trên cũng nhằm xử lý triệt để các khu vực nóng về ô nhiễm thuốc BVTV và Dioxins từ chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Ngoài ra, lượng PCBs (Polychlorinated Biphenyles) phát thải vào môi trường cũng được giảm thiểu; phấn đấu loại bỏ sử dụng PCB trong các thiết bị, máy móc vào năm 2020 và tiêu hủy an toàn PCB vào năm 2028. Giảm thiểu liên tục lượng phát thải các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hình thành không chủ định (Dioxins và Furans).
  6. Các giải pháp quản lý ngăn ngừa giảm thiểu tích tụ PAHs, PCBs.
    - Nâng cao nhận thức:
    - Nhóm giải pháp quản lý:
     + Thể chế, chính sách, pháp luật.
     + Tăng cường năng lực quản lý các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
     + Nâng cao vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm bởi các chất hữu cơ khó phân hủy.
     + Tăng cường công tác thanh tra môi trường.
    - Giải pháp kinh tế:
    - Nhóm giải pháp kỹ thuật:
    - Các giải pháp kiểm soát ô nhiễm:
     + Kiểm soát ô nhiễm tại nguồn.
     + Kiểm soát sự tích tụ các chất gây ô nhiễm trong vùng biển ven bờ.
    - Các giải pháp khoa học và công nghệ:
    - Giải pháp quản lý, kiểm soát các nguồn ô nhiễm:
     + Đối với ngành nông nghiệp.
     + Quản lý nguồn thải từ hoạt động giao thông vận tải biển.
     + Quản lý nguồn thải công nghiệp.
    - Các giải pháp hỗ trợ:
    Kết quả đào tạo:
    Dựa vào nguồn kinh phí của đề tài và trang thiết bị khảo sát, phân tích của Viện Tài nguyên và Môi trường biển, một sinh viên đại học đã được hỗ trợ và hoàn thành xuất sắc đề tài nghiên cứu tốt nghiệp trường Đại học Hàng Hải. Một nghiên cứu viên làm tập sự về PAHs và một nghiên cứu viên bảo vệ thành công đề cương nghiên cứu sinh tại trường Đại học Khoa học tự nhiên.
Sản phẩm
  • Tài liệu thu thập và khảo sát bốn vùng biển ven bờ: Vịnh Hạ Long, Tam Giang - Cầu Hai, Vũng Tàu, Tây Vịnh Thái lan.
  • 04 báo cáo chuyên đề thể hiện nội dung nghiên cứu của đề tài.
  • Báo cáo tổng hợp đề tài.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".