Điều tra nghiên cứu đa dạng côn trùng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn miền Trung và đề xuất các giải pháp bảo tồn

Chủ nhiệm đề tài PGS.TS. Tạ Huy Thịnh
Đơn vị thực hiện Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Thời gian thực hiện 2006 - 2007
Tổng kinh phí 250 triệu đồng
Nội dung đề tài

Mục tiêu

  • Đánh giá sự đa dạng của côn trùng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn từ Quảng Bình tới Quảng Nam (nhánh phía Tây) vào thời điểm hiện nay. Dự báo tác động của con người do sự có mặt của con đường lên đa dạng côn trùng ở đó. Bước đầu đề xuất biện pháp bảo vệ đa dạng côn trùng, bảo tồn các loài quý hiếm. Góp phần xây dựng bộ mẫu côn trùng của nước ta.

Nội dung nghiên cứu

  • Điều tra, đưa ra danh sách các loài côn trùng ở Trường Sơn, dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh (nhánh phía Tây), đoạn đi qua 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng trị, Thừa thiên - Huế, Quảng Nam. Xác định các loài có giá trị bảo tồn, có giá trị khoa học và có ý nghĩa kinh tế. So sánh tính đa dạng côn trùng ở khu vực nghiên cứu với một số khu vực khác của Việt Nam.
Kết quả đạt được
  • Trên địa bàn nghiên cứu thuộc phạm vi quy hoạch 2 km hai bên đường của cung đường Hồ Chí Minh, đoạn từ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) tới huyện Phước Sơn (Quảng Nam), dài 623 km; đi qua 9 huyện, 51 xã, thị trấn; cộng với 3 xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (Quảng Nam); đã ghi nhận được 3.296 loài, 244 họ, 15 bộ côn trùng; bổ sung cho khu hệ Việt Nam 350 loài (trong đó có một loài mới cho khoa học).
  • Đã ghi nhận 16 loài có giá trị bảo tồn; trong đó có 5 loài được ghi trong  Sách đỏ Việt Nam năm 2000; 8 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007); 2 loài ghi trong CITES 2006; 3 loài có trong danh mục của nghị định 32/CP. Đồng thời đề tài đề xuất thêm 4 loài khác gồm: Bọ hung ba sừng có mấu Chalcosoma causasus (Fabricius, 1801); Cua bay hoa Kontum Cheirotonus gestroi Pouillaude, 1913; Xén tóc lớn Đông Dương Neocerambyx vitalisi Pic, 1923 và Bọ lá bụng thuôn Phyllium bioculatum Gray, 1882. Trong số 16 loài có giá trị bảo tồn, có 4 loài chỉ thấy phân bố ở miền Trung và Tây Nguyên là Chalcosoma causasus; Chalcosoma atlas; Cheirotonus gestroi và Neocerambyx vitalisi. Đã ghi nhận 148 loài sâu hại nông nghiệp, 79 loài côn trùng y học và thú y và 196 loài côn trùng thiên địch.
  • Mức độ đa dạng côn trùng tại 10 điểm điều tra dọc tuyến đường được đánh giá chung là ở mức cao, cao xấp xỉ các Vườn Quốc gia, khu Bảo tồn thiên nhiên, Rừng đặc dụng đã được nghiên cứu. Thành phần loài côn trùng phản ánh hệ sinh thái tự nhiên còn có mặt và giữ vai trò chủ đạo trên toàn cung đường. Có sự sai khác về thành phần loài côn trùng giữa khu vực từ Hướng Hóa ra phía Bắc với khu vực từ Đa Krông về phía Nam.
  • Tác động của con người lên đa dạng côn trùng thể hiện ở ba phương thức: Một là các tác động trực tiếp lên khả năng đa dạng côn trùng do sự có mặt của con đường; hai là sự ảnh hưởng bởi kết quả hoạt động của con người khi tác động vào hệ sinh thái tự nhiên; ba là các tác động lên đa dạng côn trùng thông qua sự thay đổi cảnh quan, được thúc đẩy do sự có mặt của con đường; trong đó tác động trực tiếp của con đường là không lớn, nhưng tác động gián tiếp do sự có mặt của con đường là lớn hơn.
  • Mười điểm điều tra dọc tuyến đường đã thể hiện ba mức độ tác động: tác động vừa, tác động nhẹ và tác động rất nhẹ. Nhóm điểm mang mức tác động vừa có mức độ đa dạng côn trùng trung bình; nhóm điểm mang mức tác động nhẹ có mức độ đa dạng côn trùng cao; nhóm điểm mang mức tác động rất nhẹ có mức độ đa dạng côn trùng rất cao, tương đương với điểm đối chứng là 3 xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh. Tuy nhiên, mức độ đa dạng côn trùng tại cung đường nghiên cứu đều cao hơn so với tuyến đường Hà Nội - Thái Nguyên. Như vậy, tại cung đường nghiên cứu đã biểu hiện trạng thái ban đầu của diễn thế sinh thái đi xuống của hệ sinh thái tự nhiên nguyên thủy.
  • Qua điều tra quan sát và xử lý thông tin cho thấy, trong phạm vi quy hoạch 2 km hai bên đường của tất cả 51 xã, thị trấn mà đường Hồ Chí Minh đi qua, hình thành 4 khả năng quy hoạch, kèm theo các xu hướng tác động: một là, phát triển khu dân cư tập trung kiểu đô thị, phát triển sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ; hai là, phát triển khu dân cư tập trung kiểu nông thôn; phát triển trồng trọt, chăn nuôi và thủ công nghiệp; ba là, không có khả năng hình thành khu dân cư tập trung, địa hình chủ yếu là đèo dốc, nhưng gia tăng số dân sinh sống dọc theo đường; bốn là, không có khả năng hình thành khu dân cư tập trung, địa hình chủ yếu là đèo dốc, rừng được quản lý và bảo vệ tốt, nối liền với khu vực rừng lân cận.
  • Dựa theo các khả năng quy hoạch và xu hướng tác động này, đề tài đã đề xuất các giải pháp bảo vệ đa dạng côn trùng bao gồm bộ ba công cụ: Các biện pháp quản lý nhà nước; các biện pháp cộng đồng và các biện pháp kỹ thuật. Giữa các biện pháp quản lý nhà nước thì công tác quy hoạch được đưa lên hàng đầu; giữa các biện pháp cộng đồng chú trọng tới các biện pháp nâng cao sức sản xuất của nhân dân; giữa các biện pháp kỹ thuật tập trung vào các biện pháp bảo tồn tại chỗ phù hợp với 4 xu hướng tác động trong từng loài; đặc biệt đề xuất xây dựng khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa và các hành lang đa dạng sinh học Bạch Mã - Hải Vân, Sông Thanh - Ngọc Linh.
Sản phẩm
  • Đề tài đã cung cấp bộ cơ sở dữ liệu về thành phần loài côn trùng ở khu vực nghiên cứu, gồm danh sách 3.296 loài côn trùng; đây là một dữ liệu về thành phần loài lớn nhất ở Việt Nam cho đến nay; đóng góp cho dữ liệu cơ sở của khu hệ côn trùng Việt Nam; Đề tài lần đầu tiên đã cung cấp bộ dữ liệu về mức độ đa dạng côn trùng tại địa bàn nghiên cứu với các chỉ số đa dạng được lượng hóa; đã cung cấp danh sách, kèm hình ảnh các loài quý hiếm tại khu vực nghiên cứu, có đánh giá, nhận định và đề xuất mới; đã cung cấp dữ liệu về đánh giá tác động hoạt động của con người do sự có mặt của con đường lên đa dạng côn trùng; đã đề xuất các biện pháp bảo vệ đa dạng côn trùng, bảo tồn các loài quý hiếm dựa trên kết quả điều tra, nghiên cứu cụ thể. Trong đó, một số chi tiết đã hoàn thành vượt so với đăng ký trong bản thuyết minh của đề tài như: Các kết quả được tổng kết từ 4 năm nghiên cứu (đăng ký trong bản thuyết minh là 2 năm); Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn 4 tỉnh (đăng ký trong bản thuyết minh là 3 tỉnh).
  • Đã công bố 24 bài báo từ kết quả nghiên cứu của đề tài (đăng ký trong bản thuyết minh là 4 - 5 bài).
  • Đề tài đã thu thập, lưu giữ hơn 28 nghìn mẫu vật côn trùng, phục vụ xây dựng bộ mẫu côn trùng.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".