Nghiên cứu sử dụng một số chế phẩm hợp chất thiên nhiên kháng virus gây bệnh cho người và động vật từ nguồn thực vật Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài TS. Trần Huy Thái
Đơn vị thực hiện Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Thời gian thực hiện 2007 - 2008
Tổng kinh phí 250 triệu đồng
Mục tiêu đề tài

-    Tạo chế phẩm hợp chất thiên nhiên kháng virus gây bệnh ở người và động vật từ nguồn thực vật ở Việt Nam.
-    Thử được tác dụng sinh học phòng chống virus của chế phẩm trên động vật thực nghiệm.

Nội dung đề tài

 

  • Thu thập tài liệu liên quan đến các loài Cỏ tháp bút, Chó đẻ thân xanh ở trong và ngoài nước.
  • Điều tra tri thức bản địa về việc sử dụng cây Cỏ tháp bút, Chó đẻ thân xanh trong y học dân gian.
  • Khảo sát thực địa, thu thập mẫu, làm tiêu bản và mẫu phân tích hoá học, tách chiết tạo chế phẩm.
  • Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái (phân bố, sinh trưởng, phát triển, thời vụ thu hái, bảo quản và chế biến nguyên liệu, đánh giá trữ lượng tự nhiên) của loài 2 loài Cỏ tháp bút và Chó đẻ thân xanh.
  • Nghiên cứu qui trình nhân giống (bằng phương pháp sinh dưỡng và hữu tính), gây trồng và phát triển 2 loài Cỏ tháp bút và Chó đẻ thân xanh tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh và ở Hà Nội.
  • Xác định các bộ phận của cây làm dược liệu. Xác định qui trình thu hoạch, sơ chế và bảo quản dược liệu.
  • Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc và thử hoạt tính kháng virus từ các phân đoạn có hoạt tính của loài Cỏ tháp bút và loài Chó đẻ thân xanh.
  • Xây dựng qui trình tạo chế phẩm pilot từ các phân đoạn có hoạt tính của các loài nói trên và đánh giá kết quả thử nghiệm trên mô hình thực nghiệm của virus viêm gan vịt.
Kết quả đạt được

Đề tài đã hoàn thành được các nội dung đề ra. Các kết quả chính của đề tài được tóm tắt như sau:

  • - Các loài Cỏ tháp bút thường có biên độ sinh thái rộng. Cỏ tháp bút (Equisetum debile) có thể gặp phân bố từ đồng bằng đến miền núi… Chúng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng, mọc nhiều ở quần xã thực vật thứ sinh ven sông suối, trảng cỏ và cây bụi.
  • - Loài Cỏ tháp bút (E. debile) có chiều dài thân trung bình là 48,6cm (dao động từ 24-65cm), chiều rộng trung bình là 0,43cm (dao động từ 0,34-0,51cm), số đốt trung bình của thân là 12,1 đốt (dao động 7-17 đốt), và trọng lượng trung bình là 10,4g (dao động từ 5-18g). Chiều dài của rễ trung bình là 13,8cm (dao động từ 8-18cm), rộng là 0,33cm (dao động từ 0,2-0,5 cm), số đốt trung bình là 5,1 (dao động từ 3-7) và trọng lượng trung bình là 5,4 g (dao động từ 3-8). - Mật độ trung bình của loài Cỏ tháp bút (E. debile) trong điều kiện tự nhiên thay đổi từ 1.500- 4.000 cá thể/1.000m2, tối thiểu là 500 và tối đa là 8.000 cá thể. Tuy số lượng cá thể trung bình đạt 1.500 đến 3.000/1.000 m2 nhưng chúng thường có chiều cao khác nhau. Cây mọc ở Sa Pa và Đan Phượng thường cao trung bình 70cm, trong khi đó cây mọc ở Xuân Nha cao trung bình tới 90cm, còn ở Thái Nguyên cây cao trung bình 85 cm. Tại bãi sông Hồng của Đan Phượng cây thường mọc thành đám, có chỗ đến vài sào Bắc Bộ và năng suất cây có thể đạt từ 100-1.000kg /ha.
  • - Thời vụ trồng có ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của cây. Cây trồng tốt nhất vào mùa xuân (tháng 2) có tỷ lệ sống là 70%, tháng 3 có tỷ lệ sống kém hơn đạt 50%, nếu trồng muộn hơn thì tỷ lệ sống sẽ giảm đi chỉ còn 40% vào tháng 4. Nếu trồng vào mùa thu tháng 10 tỷ lệ sống cũng chỉ đạt khoảng 50 %. Cây trồng ở mật độ 20x20cm vào tháng 2/2008 sau 2 tháng tuổi có chiều cao 20cm, sau 3 tháng tuổi cao 30cm, sau 4 tháng cao 40cm, 5 tháng cao 55cm và sau 8 tháng có thể đạt chiều cao 85cm. Cây trồng vào tháng 10 hay tháng 4 có tốc độ sinh trưởng về chiều cao chậm hơn.
  • - Mật độ trung bình của loài Chó đẻ thân xanh (P. amarus) trong điều kiện tự nhiên thay đổi từ 900-1.500 cây/1.000m2, tối thiểu là 500 và tối đa là 3.000 cây. Thường sự phân bố không đều (như ở Mê Linh khoảng 1.000 cây, ở Thái Nguyên 900 cây còn ở Hà Nội thì số cây mọc tự nhiên khoảng 1.000 đến 3.000 cây). Tuy số lượng cá thể trung bình đạt 900 đến 1.000 cây/1.000 m2 nhưng chúng thường có chiều cao khác nhau. Cây mọc ở Mê Linh thường cao 60 cm, trong khi đó cây mọc ở Hà Nội chỉ cao 45 cm, còn ở Thái Nguyên cao 50 cm. Năng suất cây xanh khi trồng ở mật độ 20x20cm có thể đạt khoảng 80kg/sào.
  • - Đã xác định được qui trình phân lập các hợp chất từ các loài Cỏ tháp bút (E. debile) và Chó đẻ thân xanh (Phyllanthus amarus). Bằng các phương pháp sắc ký kết hợp, hợp chất 4 và 7 được phân lập từ dịch chiết cloroform và các hợp chất 1, 2, 3, và 5 được phân lập từ dịch chiết BuOH. Hợp chất 6 được phân lập từ cặn nước. - Thành phần hóa học từ Cỏ tháp bút (Equisetum debile) được phân lập gồm 7 hợp chất là: Equisetumoside D (chất mới), Equisetumoside B, Corchoionoside C, Dehydrovomifoliol,-Isolariciresinol-3a-O-β-D-glucopy-ranoside, kaempferol-3-sophoroside-7-glucoside, glycerol 1-(9Z,12Z-octadecadienoate).
  • - Thành phần hóa học của loài Chó đẻ thân xanh (Phyllanthus amarus) được phân lập gồm 9 hợp chất là: Quercetin, methyl brevifolincarboxylate, Astragalin (3-O-β-D-Glucopyranosyloxy-4',5,7-trihydroxyflavone; Kaempferol 3-glucoside), Quercetin 3-O-α-L-rhamnopyranoside (Quercitrin), Dehydrochebulic acid trimethyl ester:, Quercetin 3-glucoside (Isoquercitrin). Ursolic acid, Hypophyllanthin, Daphnoretin.
  • - Chỉ có 2 chất là ED2B2 và ED2C4B của loài Cỏ tháp bút ( Equisetum debile) là có hoạt tính kháng nấm mốc Asp.niger ở nồng độ 50 µg/ml), hợp chất ED24B có tác dụng ức chế 2 dòng tế bào ung thư là Hep-G2 và RD. Chỉ có mẫu 3 của loài Chó đẻ thân xanh ( P. amarus) có hoạt tính kháng nấm men C. albicans ở nồng độ 200 µg/ml). - Virus cường độc viêm gan vịt hoàn toàn ổn định, độc lực của virus rất mạnh gây được bệnh tích trên phôi và gây bệnh tích như xuất huyết gan, phôi còi, nước trứng có màu xanh…là những dấu hiệu đặc trưng của bệnh viêm gan vịt. Điều trị bệnh viêm gan virus vịt thì chế phẩm sinh học bước đầu thấy có tác dụng tốt, có ảnh hưởng đến virus cường độc viêm gan vịt và cơ thể vịt giúp cho vịt mẫn cảm được và phát triển bình thường.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".