VIỆN HÓA HỌC CÁC HỢP CHẤT THIÊN NHIÊN

1. Quá trình hình thành và phát triển của Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên

Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên tiền thân là Phòng nghiên cứu về Hoá học các Hợp chất thiên nhiên được thành lập năm 1970, trực thuộc uỷ ban KH&KT Nhà nước. Viện được chính thức chuyển thành Viện chuyên ngành quốc gia thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo Quyết định số 65/CT ngày 5/3/1990 của Chính phủ.

Chức năng của Viện là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai về các lĩnh vực Hoá học các hợp chất thiên nhiên, hoá dược và vật liệu mới.

Từ năm 1991, Viện Hoá học các Hợp chất Thiên nhiên là cơ quan đại diện quốc gia Việt Nam của mạng lưới Hóa hợp chất thiên nhiên thuộc UNESCO khu vực (ROSTSEA).
Viện được Thủ tướng Chính Phủ giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học theo quyết định số 521/TTg ngày 29/5/1995.

Theo Quyết định số 3465/QĐ-GD-ĐT ngày 26/09/1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giao chuyên ngành đào tạo nghiên cứu sinh cho Viện là Hoá học các hợp chất thiên nhiên và các chất có hoạt tính sinh lý; Mã số 1.04.09.

Năm 2004, theo Quyết định số 1349/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH ngày 16/3/2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuyên ngành đào tạo của Viện hoá học các Hợp chất thiên nhiên được chuyển đổi thành Hoá học các hợp chất thiên nhiên; Mã số 62.44.27.02 cho đến hiện nay.

Tiềm lực phục vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện

Trải qua gần 40 năm hình thành và phát triển, tiềm lực nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện ngày càng được tăng cường.

Về đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo tiến sĩ là các GS, PGS, TSKH, TS ngày một tăng, từ 5 người năm 1995 đến 8 người năm 2000, 15 người năm 2005 và hiện nay là 20 người chưa kể những GS là người nước ngoài tham gia phối hợp đạo tạo tại Viện.
Về cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo ngày càng được củng cố với nhiều thiết bị hiện đại hàng đầu trong cả nước như:

1) Phân tích hóa học:
- Máy cộng hưởng từ hạt nhân NMR Spectromter, BRUCKER 500MHz (liên kết với Viện Hóa học).
- Hệ thống sắc kí lỏng khối phổ LC-MS và máy sấy tầng sôi đa năng được đầu tư năm 2006-2007.
- Máy sắc kí khí GC/MS HP 6890 với các detector khác nhau: FID; ECD; MSD...
- Máy sắc kí lỏng phân giải cao: HPLC phân tích và HPLC điều chế HP 1090 với detector Diode Array ghi phổ UV (190-600nm).
- Máy quang phổ hồng ngoại vector 22 của hãng Bucher.
- Thiết bị phân tích nguyên tố Elemental analyzer ORGANIC ELEMENT ANALYZER model Flash EA 1112 CHNS-O/MAS200.

2) Thử nghiệm hoạt tính sinh học:
- Các thiết bị thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro: Với các thiết bị phục vụ cho các phép thử hoạt tính như: Máy đọc Elisa, kính hiển vi soi ngược có chụp ảnh, máy đếm tế bào, máy li tâm để bàn, Box laminar, tủ ấm CO2, tủ lạnh âm sâu -80oC và các dụng cụ tiêu hao khác để phục vụ cho các phòng:
+ Phòng thử hoạt tính gây độc tế bào (Cytotoxicity assay).
+ Phòng thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định (Antimicrobiology assay).
+ Phòng thử hoạt tính chống oxy hoá (antioxidant assay).
- Phòng thí nghiệm nghiên cứu vi sinh vật bao gồm cả phòng nghiên cứu về nấm ăn và nấm dược liệu với các thiết bị chuyên dụng: Thiết bị khử trùng hơi nước, tủ sấy, các loại tủ ấm, kính hiển vi, máy lắc ngang và các dụng cụ khác.

3) Thiết bị phân tích môi trường:
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước mặt, nước thải công nghiệp và nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam. Ứng dụng mô hình sinh thái mô phỏng các quá trình sinh địa hóa của các hệ thống sông dưới tác động của con người và các điều kiện tự nhiên (có tính đến biến đổi khí hậu) trong các lưu vực hệ thuỷ văn.
- Các thiết bị lấy mẫu hiện trường, máy ổn nhiệt, máy ly tâm, thiết bị đo pH, máy đo quang, máy AAS, máy GC, máy UV-VIS, bộ phân tích COD, bộ phân tích BOD, máy lắc, máy li tâm, máy phân tích TOC, máy cất đạm, tủ ủ BOD, lò nung, máy đo chất lượng nước nhanh, máy cất nước, máy đo lưu lượng, máy đo nhanh chất lượng nước sông.

2. Thực trạng và kinh nghiệm quá trình gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đạo tạo tiến sỹ

2.1. Thực trạng và kết quả đào tạo

Kể từ năm 1997-2011, Viện đã thực hiện hàng trăm đề tài, dự án KHCN các cấp và được đánh giá đạt chất lượng cao trong đó:
- Đề tài, Dự án KHCN cấp Nhà nước 38
- Đề tài Hợp tác quốc tế theo Nghị định thư 15
- Đề tài KHCN cấp Bộ 42
- Đề tài Hợp tác quốc tế song phương 22

Việc thực hiện đào tạo tiến sĩ tại Viện luôn gắn liền với các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ. Các NCS trực tiếp tham gia thực hiện và đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện các đề tài.

Từ kết quả nghiên cứu của các NCS trong quá trình thực hiện các đề tài KHCN tại Viện (tính từ năm 2004 đến 2011) đã xuất bản 61 bài báo quốc tế, 192 bài báo quốc gia, 06 bằng phát minh sáng chế, 05 sách chuyên khảo.

Số NCS của Viện từ năm 1996 đến nay là 43 người: 25 NCS đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ, 18 NCS đang tiếp tục thực hiện luận án tại Viện. Trong đó 07 NCS đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ cấp Viện, theo Quy chế mới dựa trên Thông tư số10/2009/TT-BGD ĐT ngày 07/5/2009 của Bộ Giáo dục & Đào tạo và "Quy chế đào tạo sau đại học" theo quyết định số 237/QĐ-HCTN ngày 24/12/2009 của Viện trưởng Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên.

Ngoài ra, hàng năm Viện còn cử 3-5 cán bộ trẻ đi đào tạo và thực tập SĐH và tham dự hội nghị khoa học tại các nước có trình độ cao trong lĩnh vực Hoá học các Hợp chất thiên nhiên như Liên bang Nga, CHLB Đức, Hungary, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Canada... Các cán bộ này đều đóng góp tích cực trong việc nghiên cứu khoa học tại Viện.

2.2. Các hình thức đào tạo và kinh nghiệm gắn kết nghiên cứu khoa học và đào tạo Tiến sĩ tại Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên

Việc đào tạo Tiến sĩ tại Viện luôn gắn liền với việc nghiên cứu khoa học. Luận án của các NCS được gắn với các đề tài khoa học công nghệ đang được triển khai, điều này làm cho các NCS luôn được cập nhật các kiến thức mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.

Tổng hợp các hình thức thực hiện đào tạo Tiến sĩ gắn với nghiên cứu khoa học tại Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên theo 5 mô hình chính như sau:

1) Mô hình 1: Kết quả luận văn dựa trên các nghiên cứu lí thuyết, nghiên cứu cơ bản, các phương pháp mới hoặc chiết tách xác định chất mới:
Các NCS sẽ được tiếp cận và thực hiện nghiên cứu cơ bản, đột phá các phương pháp mới hoặc chiết tách xác định các hợp chất mới. Việc thực hiện luận án của các NCS theo mô hình này được gắn với việc thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản (NCCB).

2) Mô hình 2: Kết quả luận văn dựa trên ứng dụng kết quả nghiên cứu KHCN vào thực tiễn:
Theo mô hình này, các NCS được gắn với việc thực hiện các đề tài, dự án ứng dụng triển khai công nghệ vào phục vụ cuộc sống. Các kết quả luận văn thực hiện theo mô hình này có khả năng vận dụng các kết quả nghiên cứu cơ bản, định hướng tạo các sản phẩm để triển khai vào thực tiễn đạt hiệu quả cao.

3) Mô hình 3: Đào tạo kết hợp cả hai - dựa trên kết quả các nghiên cứu NCCB lí thuyết và ứng dụng thực tiễn:
Các NCS được thực hiện luận án trên cơ sở mô hình nghiên cứu hiện đại đang được áp dụng có hiệu quả tại Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên “Nghiên cứu hoá học theo định hướng hoạt tính sinh học”. Các nghiên cứu hoá học chiết tách tạo ra hợp chất mới, chứng minh cấu trúc - dựa trên định hướng của thử nghiệm hoạt tính sinh học và nghiên cứu mối liên quan giữa hoạt tính và cấu trúc của hợp chất. Mô hình nghiên cứu gắn với đào tạo này trang bị cho các NCS các kiến thức cả về lý luận và thực tiễn và tạo ra phong cách nghiên cứu độc lập, sáng tạo sau quá trình đào tạo. Các NCS thực hiện luận án theo mô hình này được gắn với thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và triển khi công nghệ từ cấp Nhà nước đến cấp Bộ. Viện cũng đã và đang triển khai mô hình sàng lọc ảo in silico kết hợp sàng lọc hoạt tính in vitro nhằm đào tạo các cán bộ trẻ và NCS tiếp cận với các phương pháp tiên tiến trong sàng lọc nguồn các hợp chất thiên nhiên.

4) Mô hình 4: Đào tạo phối hợp nghiên cứu trong nước với thực tập đào tạo ngắn hạn tại nước ngoài; Thầy hướng dẫn song phương Việt Nam và quốc tế:
Các NCS được thực hiện luận án với một thầy hướng dẫn trong nước và một thầy hướng dẫn nước ngoài. Các NCS thực hiện luận án theo mô hình này được gắn với thực hiện các đề tài hợp tác quốc tế theo Nghị định thư hay đề tài hợp tác quốc tế song phương. Một số NCS được đào tạo dài hạn ở nước ngoài với sự tham gia đồng hướng dẫn cả hai phía và có các chuyến làm việc ngắn hạn trong nước (NCS Lê Thị Phương Quỳnh đã tốt nghiệp TS tại CH Pháp, NCS Đỗ Hữu Nghị đang làm luận án tại CHLB Đức). Các trường hợp khác, trong quá trình thực hiện luận án, NCS được kết hợp các chuyến thực tập ngắn hạn tại các nước có trình độ cao về lĩnh vực nghiên cứu.

5) Mô hình 5: Cử cán bộ trẻ đi đào tạo dài hạn tại nước ngoài:
Các NCS được gửi đi đào tạo tại các nước bạn mà Viện có quan hệ hợp tác nhằm học tập các phương pháp hiện đại từ các nước tiên tiến trên thế giới. Hình thức đào tạo này thường gắn với việc thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế, các đề tài hợp tác theo Nghị định thư, các hình thức hợp tác khác...

Nguồn tin: Tuyển tập báo cáo Tham luận về thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".