VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (STTNSV) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã trở thành một trong những Viện nghiên cứu chuyên ngành về sinh thái và tài nguyên sinh vật mạnh nhất nước nhà. Viện không chỉ là một cơ quan nghiên cứu những vấn đề về khoa học cơ bản mà còn là nơi nghiên cứu triển khai các ứng dụng của các tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn cuộc sống. Các thành tựu nghiên cứu khoa học của các phòng nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu của Viện không những khẳng định chiều sâu của mỗi chuyên ngành mà còn mang tính liên kết đa ngành giữa các hướng nghiên cứu trong Viện, giữa các Viện trong Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng như các Viện các Trung tâm khoa học khác trong cả nước, khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.

Song song với công tác nghiên cứu khoa học, công tác đào tạo cán bộ khoa học cũng là một trong những hoạt động rất quan trọng của Viện. Trong thời gian qua, công tác đào tạo được ban lãnh đạo Viện, các cán bộ nghiên cứu quan tâm và tham gia một các tích cực. Ngoài việc trực tiếp đào tạo cán bộ trong và ngoài cơ quan, Viện còn là cơ sở giáo dục được Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ nhiều chuyên ngành trong khoa học sự sống. Viện STTNSV phối hợp với Viện Công nghệ sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Thái Nguyên và một số cơ sở đào tạo khác đã đào tạo được gần 300 thạc sỹ và trên 60 tiến sĩ sinh học. Mỗi năm Viện tuyển khoảng 30-35 học viên cao học và từ 8-10 NCS.

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã trở thành cơ sở đào tạo có chất lượng đáng tin cậy và có uy tín trên phạm vi cả nước. Nhiều cán bộ khoa học do Viện đào tạo đã và đang đóng góp tích cực cho sự phát triển của Viện, Ngành và Quốc Gia.

Tuy nhiên Viện STTNSV cũng chỉ là 1 trong hơn 120 cơ sở đào tạo Sau Đại Học (SĐH) trong cả nước. Trong thời gian qua tình hình chung trong toàn quốc chất lượng đào tạo SĐH được đưa ra bàn luận khá nhiều, nhiều đề tài nghiên cứu trùng lặp không gắn với thực tế, nhiều người muốn có bằng thạc sĩ, tiến sĩ để được thăng tiến.

Những nội dung trên phần nào cũng phản ánh về bức tranh chung trong đào tạo SĐH ở nước nhà. Chất lượng các thạc sĩ, tiến sĩ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: bản thân học viên (HV), Nghiên cứu sinh (NCS), cán bộ hướng dẫn, cơ sở đào tạo, kinh phí cho đào tạo, ngoại ngữ, tổ chức các hội đồng và những cơ chế và chính sách khác. Sau đây là một số kinh nghiệm và giải pháp trong đào tạo SĐH ở Viện STTNSV.

1. Kinh nghiệm đào tạo SĐH

Một điều rất thuận lợi ở Viện nghiên cứu chuyên ngành trong khi tổ chức thi tuyển HV cao học hoặc xét tuyển NCS vì: (1) Những người dự thi vào cao học/NCS đều phải có mã số chuyên ngành phù hợp với hướng đào tạo, có bằng đại học/thạc sĩ đúng hoặc gần chuyên ngành đào tạo. Như vậy hầu hết những người dự thi đều tới từ những cơ quan nghiên cứu hay giảng dạy, có một số rất ít từ những cơ quan quản lý nhà nước. (2) Những đề tài nghiên cứu đối với luận văn Th.S, luận án TS không có sự trùng lặp vì hầu hết HV, NCS và cán bộ hướng dẫn đều có khả năng khai thác các nguồn tài liệu trong và ngoài nước và có mối quan hệ rộng rãi với những chuyên gia nước ngoài và có điều kiện triển khai những đề tài hay chương trình nghiên cứu ở các cấp khác nhau.

1.1. Xét tuyển

Việc xét tuyển hay thi tuyển vào làm tiến sĩ tuỳ thuộc vào chuyên ngành và cơ sở đào tạo. Mỗi phương án đều có cái hay và không hay của nó. Trong thời gian trước đây theo qui chế chung của Bộ GD&ĐT Viện chỉ tổ chức thi tuyển mà không tổ chức xét tuyển, nhưng hai năm trở lại đây viện đã tổ chức xét tuyển theo qui chế đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục Đào tạo và của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Qua kỳ xét tuyển NCS đã chứng tỏ được khả năng của mình qua những đề cương được chuẩn bị kỹ tuy có nhiều mã số chuyên ngành những việc tổ chức nhiều hội đồng đánh giá đề cương và cho điểm lại theo một thang điểm chung nên việc đánh giá là tương đối khách quan.

Việc tổ chức hội đồng xét tuyển NCS tại Viện có nhiều thuận lợi. Các tiêu chí được đưa ra chung cho các chuyên ngành và các đối tượng khác nhau, không cần quá chi tiết. Hồ sơ của thí sinh xét tuyển có thể khác nhau, tùy theo từng cơ sở đào tạo nhưng chủ yếu thường bao gồm lý lịch khoa học, các bài báo, đề cương nghiên cứu, thư giới thiệu của giáo sư đầu ngành... kèm theo các chứng nhận liên quan đến ngoại ngữ hoặc các kỹ năng khác.

Việc tuyển HV cao học vẫn theo hình thức thi tuyển kết hợp với trường Đại Học theo Quyết định số 20/2008QĐ-BGDĐT ngày 8/2008 về việc ban hành Qui chế đào tạo thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quá trình này diễn ra vẫn suôn sẻ trong nhiều năm với sự phối kết hợp chặt chẽ với Đại học Thái Nguyên.

1.2. Kinh phí đào tạo

Để nâng cao chất lượng đào tạo SĐH thì vấn đề kinh phí đóng vai trò rất quan trọng. Các doanh nghiệp nên tài trợ cho nhóm nghiên cứu thông qua thầy hướng dẫn hoặc HV/NCS để họ đủ kinh phí thực hiện đề tài mà họ đang theo đuổi. Bản thân các nhóm nghiên cứu, các thầy hướng dẫn phải kết hợp với các chương trình nghiên cứu các cấp và các nguồn. Để thông qua những việc đó chẳng những họ phải có đủ kinh phí mà còn phải trực tiếp tham gia và gắn kết các công trình nghiên cứu của mình với thực tế của địa phương.
Quy định thu chi tài chính cho đào tạo Th.S/TS đã được ban hành từ năm 1994 nhưng đến nay chưa hề thay đổi. Với mức 6 triệu đồng/NCS/năm và 3 triệu đồng/năm/HV. So với mức kinh phí đào tạo TS ở nước ngoài lên tới 15.000 - 20.000 USD/NCS thì kinh phí đào tạo ở trong nước là quá thấp. Hiện tại Viện thu thêm phí đào tạo đối với NCS là 4 triệu đ/năm và HV CH là 3 triệu đ/năm.

Vì vậy, trong một vài trường hợp vì không có tiền hỗ trợ nên HV/NCS và người hướng dẫn chỉ chọn thực hiện những đề tài đòi hỏi chi phí thấp mà không quan tâm đến giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, dẫn tới chất lượng luận án kém.

Nhiều khi HV/NCS phải tự bỏ tiền làm đề tài và đấy là một thực tế đang xảy ra. Những yếu tố đó cũng khiến người thầy dễ “nương tay” cho qua. Tuy nhiên ở Viện STTNSV thì HV/NCS có nhiều điều kiện thuận lợi để hoàn thành luận án của mình vì được tự mình làm chủ nhiệm đề tài nhỏ, xin tài trợ những dự án nhỏ từ những tổ chức hay cá nhân và có điều kiện và cơ hội tham gia đề tài của cán bộ hướng dẫn.

1.3. Ngoại ngữ

Ngoại ngữ chính là công cụ giúp HV/NCS tìm ra được những vấn đề cần thiết cho công trình nghiên cứu của mình, bởi phần lớn các tạp chí khoa học chuyên ngành đều sử dụng tiếng nước ngoài. Thêm vào đó, HV/NCS cũng phải biết ngoại ngữ để khi dự hội thảo quốc tế còn có thể trao đổi học thuật với các nhà khoa học nước ngoài.

Trên thực tế khả năng sử dụng ngoại ngữ của HV/NCS còn quá yếu và tập trung chủ yếu vào những NCS là cán bộ công chức nhà nước và cán bộ từ những địa phương không có điều kiện nâng cao trình độ ngoại ngữ. Nếu như HV/NCS không có khả năng về ngoại ngữ, không đọc được tài liệu nước ngoài, không có kiến thức tổng quan thì khó có những cái mới và khó có được những thông tin hiện nay trên thế giới họ đang làm gì trong lĩnh vực nghiên cứu của mình.

Ở Viện STTNSV ngoại ngữ là một yếu tố không thể thiếu. Các cán bộ nghiên cứu và HV/NCS có nhiều điều kiện thuận lợi để trao đổi với chuyên gia nước ngoài qua những chương trình hợp tác, những hội nghị, hội thảo quốc tế, những đợt tập huấn ngắn và dài hạn ở nước ngoài. Hơn nữa với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông việc khai thác và trao đổi thông tin cũng vô cùng thuận lợi. Tuy nhiên để viết được một bài báo bằng tiếng nước ngoài HV/NCS bắt buộc phải nâng cao trình độ ngoại ngữ không ngừng.
Bởi vậy, một điểm mới nữa của Quy chế đào tạo Tiến sĩ, Thạc sĩ mới là bắt buộc HV/NCS phải có trình độ 450 Toefl hoặc 5.0 điểm IELT. Tuy nhiên cũng cần quan tâm tới một số ngoại ngữ thông dụng khác trên thế giới.

1.4. Người hướng dẫn

HV/NCS thường lựa chọn đăng kí người hướng dẫn là những GS, PGS có nhiều kinh nghiệm, uy tín trong Viện để nắm chắc khả năng bảo vệ thành công. Điều này đôi khi dẫn đến tình trạng có người hướng dẫn 5 hoặc 6 NCS, nhưng cũng có người chẳng có ai đăng kí hướng dẫn. Điều này cũng dễ hiểu ở Viên STTNSV bởi vì: số lượng GS, phó GS, TSKH, TS có kinh nghiệm là rất lớn nên việc lựa chọn cán bộ hướng dẫn không phải là khó, nhưng cái khó ở đây là chọn người cho phù hợp với chuyên ngành của HV/NCS. Những người hướng dẫn có nhiều HV/NCS là những người có nhiều điều kiện thuận lợi để hướng dẫn thành công luận văn, luận án như: có một tập thể mạnh gồm nhiều cán bộ khoa học có trình độ sẵn sàng giúp HV/NCS hoàn thành nhiệm vụ của mình, hơn nữa những cán bộ hướng dẫn đó rất cần lực lượng làm việc như những HV/NCS.

Để điểu chỉnh tình trạng trên, Quy chế đào tạo TS mới yêu cầu các cơ sở đào tạo trước khi tuyển sinh phải thông báo công khai danh sách những GS có khả năng nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đồng thời khống chế số lượng NCS/GS. Đây là điểm mới nhưng phù hợp với xu thế hiện nay.

1.5. Chương trình đào tạo

Mỗi cơ sở đào tạo xây dựng chương trình tổng thể của mình dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ đơn vị đề ra. Chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của các ngành khác nhau ngay trong một đơn vị cũng rất đa dạng tùy theo quan điểm của người thiết kế chương trình. Mục đích của chương trình thạc sĩ, tiến sĩ ngành sinh học, sinh thái học tại Viện STTNSV là đào tạo các học giả và các nhà nghiên cứu sinh học và bảo tồn. Vì thế chương trình bao gồm các khóa học về lí thuyết bảo tồn và kỹ năng nghiên cứu triển khai. Điểm nổi bật của chương trình là dựa trên đóng góp của chính HV/NCS vì bản thân họ là người đang triển khai những nghiên cứu khoa học trong viện và trường. Những vấn đề của chính HV/NCS và cơ sở công tác của họ được mang ra nghiên cứu, vận dụng những lý thuyết HV/NCS đang học trong chương trình để giải quyết vấn đề.

Nhà nước cần phải có các quy định cụ thể về chuẩn đào tạo bậc Ths.S. và TS theo từng lĩnh vực khác nhau. Các chương trình đào tạo cần phải được kiểm định chất lượng. Cần nhanh chóng thực hiện phân loại các chương trình thạc sĩ nghiên cứu và thạc sĩ thực hành để tạo điều kiện chọn lọc tốt đầu vào cho đào tạo TS. Cần đẩy mạnh chương trình hợp tác đào tạo SĐH giữa các trường và các viện nghiên cứu trong nước và quốc tế.

2. Những giải pháp cơ bản

Sau nhiều năm làm công tác đào tạo bậc SĐH, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã cung cấp được gần 300 thạc sĩ và 60 tiến sĩ cho xã hội. Viện đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm trong công tác đào tạo SĐH có gắn kết với những chương trình, đề tài, dự án trong đó có những chương trình hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Một sự kết hợp hài hoà nhưng mang lại hiệu quả kinh tế và khoa học cao.

Tuy nhiên để nâng cao hơn nữa chất lượng những thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo cùng với những chủ trương, chính sách đúng đắn của nhà nước là gắn công tác đào tạo SĐH vào những đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và những chương trình nghiên cứu khoa học phải trú trọng tới công tác đào tạo SĐH.

Sau đây là một số nhóm giải pháp chính:

1) Chính sách đối với cán bộ hướng dẫn và HV/NCS

Việc làm luận văn, luận án gắn với trách nhiệm của người hướng dẫn. Trong quy chế mới, quy định rất chặt chẽ trách nhiệm của người hướng dẫn, cụ thể như: các cơ sở đào tạo phải công bố công khai danh sách các cán bộ khoa học có đủ khả năng hướng dẫn HV/NCS và danh mục hướng nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu để HV/NCS có thể chọn người hướng dẫn. Đây cũng là một giải pháp tốt để NCS có cơ hội chọn những cán bộ hướng dẫn thích hợp và để gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo SĐH.
Tuy trách nhiệm của người hướng dẫn rất cao nhưng nhà nước và cơ sở đào tạo chưa có những chính sách ưu tiên cụ thể. Cần có những đánh giá và sự ưu tiên đối với những cán bộ hướng dẫn bằng cách tăng kinh phí cho các đề tài mà người hướng dẫn HV/NCS trù trì, có những phần thưởng cụ thể dành cho công việc này. Và ngược lại những cán bộ không có đề tài triển khai thì không nên tham gia hướng dẫn HV/NCS. Hiện nay Viện mới chỉ có khả năng chi cho người hướng dẫn NCS là 3,2 triệu/1 NCS/năm và 2,2 triệu/1 HV CH/năm.

2) Tăng đầu tư cho HV/NCS làm luận văn, luận án

Việc gửi một HV/NCS đi học ở nước ngoài tốn cho Chính phủ khá nhiều tiền (riêng tiền học bổng đã hơn 10 nghìn USD một năm cho một NCS). Đào tạo trong nước có thể đỡ tốn kém hơn nhưng nếu muốn đảm bảo chất lượng cũng cần được đầu tư không quá thấp (ít ra cũng phải được bằng ½ kinh phí đi học nước ngoài, tức là phải đầu tư tối thiểu 25-30 nghìn USD cho một NCS trong toàn bộ thời gian làm NCS). Tiền đó để cấp học bổng cho NCS đủ cao để họ yên tâm sống mà làm việc nghiêm chỉnh và tự hào về công việc của mình, và để trang trải các chi phí khác, ví dụ như đi dự hội nghị khoa học quốc tế, mời GS nước ngoài vào hội đồng bảo vệ, phụ cấp cho GS hướng dẫn.

3) Hợp tác quốc tế về đào tạo

Bộ GD& ĐT đã và đang triển khai những hợp tác quốc tế trong đào tạo. Theo thống kê chưa đầy đủ hàng năm có khoảng 38% NCS được cử đi đào tạo ở nước ngoài, 15% NCS được đào tạo kết hợp với những tổ chức nước ngoài, rất nhiều thạc sĩ (con số đào tạo thác sĩ chưa có thống kê đầy đủ). Như vậy trên 50% NCS sau khi hoàn thành luận án của mình trở thành những TS ngang tầm quốc tế. Còn lại 47% NCS là làm luận án trong nước và sau khi hoàn thành luận án của mình họ trở thành những TS nội địa.

Với kinh nghiệm đào tạo của Viện chúng tôi thấy rằng những TS được đào tạo trong nước về chất lượng cũng như kiến thức thực tế không kém là bao so với những TS được đào tạo ở nước ngoài và đào tạo kết hợp. Chưa có tiêu chí nào đánh giá cụ thể và những so sánh đều là tương đối. Hơn nữa tuỳ theo những lĩnh vực nghiên cứu có trường hợp TS được đào tạo ở nước ngoài về thì giỏi về lý thuyết nhưng kém kiến thức thực tế hơn so với những TS đạo tạo trong nước. Theo quan điểm của chúng tôi thì đồng ý là lý thuyết cần theo kịp thế giới nhưng thực hành phải làm ra của cải. Hai quan điểm đó đều cần được trú trọng.

Để đảm bảo tiến sĩ có chất lượng quốc tế, bản thân hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ cần có chất lượng quốc tế. Ngay các nơi tiên tiến trên thế giới cũng hay mời các phản biện người nước ngoài vào các hội đồng bảo vệ tiến sĩ, để đảm bảo tính quốc tế của các luận án. Ở Việt Nam, việc có phản biện quốc tế trong hội đồng bảo vệ tiến sĩ là đặc biệt khó khăn vì có điều bất cập là khi NCS làm luận án trong nước thì trình độ ngoại ngữ không cao nên bảo vệ luận án trong hội đồng mang tầm quốc tế sẽ không khả thi. Chỉ cần có những công bố quốc tế hay có những bài báo cáo trình bày trong những hội nghị/hội thảo quốc tế bằng tiếng nước ngoài là đủ. Tuy nhiên cũng cần có cơ chế khuyến khích những NCS đăng ký bảo vệ trước hội đồng mang tầm quốc tế với những phần thưởng xứng đáng như một xuất học bổng thực tập sau tiến sĩ chặng hạn như ở một số nước đã làm hay một hình thức khen thưởng xứng đáng nào đấy.

4) Tăng cường kiểm soát và kiểm định chất lượng trong đào tạo

Nguyên lý chung của việc đổi mới đào tạo ThS, TS là kiểm soát chất lượng đầu ra. Trong quy chế đào tạo ThS, TS đã ban hành, NCS bắt buộc phải có bài báo đăng trên tạp chí có uy tín và khuyến khích đăng trên tạp chí nước ngoài.

Tạp chí quốc tế có rất nhiều loại kể cả những tạp chí có uy tín. Để đánh giá đúng và khách quan Bộ GD&ĐT cần công bố danh sách những tạp chí có uy tín để HV/NCS và cán bộ hướng dẫn có cơ sở gửi bài trong thời gian làm luận án

Nguồn tin: Tuyển tập báo cáo Tham luận về thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm  Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".