VIỆN VẬT LÝ

1. Một số nét khái quát

Viện Vật lý được thành lập theo Nghị định số 25/CP ngày 5 tháng 02 năm 1969 với chức năng sau:

- Tổ chức công tác nghiên cứu các vấn đề cơ bản của vật lý nhằm tiếp cận những thành tựu hiện đại của vật lý trên thế giới, định hướng cho các lĩnh vực nghiên cứu công nghệ góp phần nâng cao tri thức chung về vật lý của nước nhà.
- Tổ chức triển khai áp dụng các phương pháp vật lý và các thành tựu của vật lý trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ khác và các lĩnh vực kinh tế quốc dân.
- Sản xuất đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ các sản phẩm mới với trình độ công nghệ cao.
- Thông tin tư vấn về vật lý.
- Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao trình độ về các ngành vật lý.

Lực lượng cán bộ nghiên cứu:
- 20 Giáo sư và Phó Giáo sư,
- 49 Tiến sĩ, 16 Thạc sĩ, 26 Đại học

Các đơn vị nghiên cứu:
- Trung tâm Vật lý lý thuyết
- Trung tâm Vật lý tính toán
- Trung tâm Vật lý hạt nhân
- Trung tâm Điện tử học lượng tử
- Trung tâm Vật lý và Công nghệ Môi trường
- Trung tâm Vật lý kỹ thuật
- Phòng tự động hóa
- Phòng Máy tính và An toàn mạng

Cơ sở vật chất:
- Hệ thống phòng học, phòng xêmina, hội trường được trang bị máy chiếu.
- Thư viện sách và thư viện điện tử.
- Hệ thống máy tính phục vụ tính toán, có thể truy cập internet miễn phí 24/24 giờ.
Viện Vật lý là một trong những cơ quan khoa học đầu tiên trong nước được phép đào tạo sau đại học: đào tạo trình độ Tiến sĩ từ năm 1980, trình độ Thạc sĩ từ năm 1992. Từ năm 1998, Viện phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện đào tạo trình độ Thạc sĩ.

Ngoài nhiệm vụ đào tạo sau đại học trong nước, Viện Vật lý còn thực hiện Đề án phối hợp đào tạo Tiến sĩ giữa Viện Vật lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) với Viện Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Québec (Canada) theo Quyết định 1130/QĐ-BGD&ĐT ký ngày 9 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề án được phép sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của Đề án 322. Đề án được tuyển sinh mỗi năm một lần theo chỉ tiêu do Bộ Giáo dục và Đào tạo phân bổ.

Viện Vật lý cũng thực hiện đào tạo Tiến sĩ theo chế độ đồng hướng dẫn với các trường đại học nước ngoài. Việc đào tạo này chưa được xây dựng thành các đề án, mà chỉ được thực hiện đối với một số trường hợp cụ thể.

Viện đã phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đào tạo cán bộ giảng dạy Vật lý trình độ Thạc sĩ cho Trường Đại học tổng hợp Vientiane (Lào: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cấp sinh hoạt phí, Viện Vật lý đài thọ kinh phí đào tạo.

Trong 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm Viện tuyển 8-10 nghiên cứu sinh, 25-30 học viên Cao học.

Kết quả đào tạo: Đã đào tạo 78 Tiến sĩ, 261 Thạc sĩ, trong đó có:
+ 5 Tiến sĩ được đào tạo theo chế độ đồng hướng dẫn trong chương trình phối hợp giữa Viện Vật lý và Viện Riken (Nhật Bản), Trường đại học Savoie và Trường Đại học Paris-Sud 11 (Cộng hòa Pháp).
+ 4 học viên Lào đã tốt nghiệp Thạc sĩ.
Hiện nay, Viện đang đào tạo 29 nghiên cứu sinh và 71 học viên Cao học (có 2 học viên Lào).

2. Tổ chức đào tạo sau đại học

2.1. Các chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ

1) Vật lý lý thuyết và Vật lý toán                  Mã chuyên ngành: 62 44 01 01
2) Vật lý nguyên tử và hạt nhân                 Mã chuyên ngành: 62 44 05 01
3) Vật lý năng lượng cao                              Mã chuyên ngành: 62 44 05 05
4) Vật lý chất rắn                                         Mã chuyên ngành: 62 44 07 01
5) Quang học                                               Mã chuyên ngành: 62 44 11 01

2.2. Các chuyên ngành đào tạo Thạc sĩ

1) Vật lý lý thuyết và Vật lý toán                                   Mã chuyên ngành: 60 44 01
2) Vật lý nguyên tử, hạt nhân và năng lượng cao         Mã chuyên ngành: 60 44 05
3) Vật lý chất rắn                                                        Mã chuyên ngành: 60 44 07
4) Quang học                                                             Mã chuyên ngành: 60 44 11
5) Vật lý kỹ thuật                                                         Mã chuyên ngành: 60 44 17

2.3. Thành lập các bộ môn để tổ chức giảng dạy các chuyên ngành:

1) Bộ môn Lý thuyết trường và hạt cơ bản
2) Bộ môn Lý thuyết chất rắn
3) Bộ môn Lý thuyết hạt nhân
4) Bộ môn Quang học
5) Bộ môn Vật lý nguyên tử, hạt nhân và năng lượng cao
6) Bộ môn Vật lý chất rắn
7) Bộ môn Vật lý kỹ thuật

2.4. Đào tạo Thạc sĩ

Chương trình khung được Hội đồng khoa học Viện thảo luận và thông qua. Các chuyên ngành thảo luận, xây dựng Chương trình chi tiết các môn học.
- Thời lượng trung bình: 63 tín chỉ gồm
+ 8 tín chỉ phần kiến thức chung (Triết học và Ngoại ngữ)
+ 45 tín chỉ phần kiến thức cơ sở và chuyên ngành
+ 10-15 tín chỉ thực hiện luận văn.
- Học phần bắt buộc chiếm 66% thời lượng các môn học.
- Tổ chức giảng dạy:

Các môn học chung cho các chuyên ngành do Bộ phận sau đại học tổ chức và quản lý. Các môn học chuyên ngành và hướng dẫn làm luận văn Thạc sĩ do các Chuyên ngành tổ chức thực hiện.

Tất cả các môn học đều có chương trình chi tiết được xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Học viên học các môn học thuộc khối kiến thức chung trong năm thứ nhất. Các môn chuyên ngành được dạy trong năm thứ hai. Đầu năm thứ hai, học viên đã có thể lựa chọn đề tài luận văn và người hướng dẫn. Vì vậy, thời gian làm luận văn tốt nghiệp có thể bắt đầu ngay từ năm thứ hai. Điều này giúp cho chất lượng của các luận văn được nâng cao. Nội dung của nhiều luận văn đã được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành.

2.5. Đào tạo Tiến sĩ

- Xây dựng Quy chế đào tạo Tiến sĩ theo đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực hiện đúng Quy chế đào tạo, đảm bảo chế độ báo cáo kết quả nghiên cứu .
- Các đề tài luận án đều gắn với các đề tài nghiên cứu cơ bản đăng ký với Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED).
- Hỗ trợ về tài chính cho nghiên cứu sinh thực hiện luận án, tham dự các hội nghị khoa học, in ấn luận án.
- Nêu cao vai trò của người hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh, chịu trách nhiệm về chất lượng của luận án cũng như chất lượng nghiên cứu sinh.

3. Một số thuận lợi, khó khăn và kiến ngh

3.1. Thuận lợi

- Đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình độ, tích cực hoạt động khoa học, tâm huyết với công tác đào tạo, luôn vì học viên.
- Có sự chỉ đạo, ủng hộ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng như của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục đại học.

3.2. Khó khăn

- Chất lượng đào tạo đại học chưa tốt, dẫn đến đầu vào của đào tạo SĐH thấp.
- Các quy định về chương trình đào tạo chưa phù hợp với tình hình hiện nay ở Việt Nam nên những đổi mới trong đào tạo chưa phát huy được tác dụng.
- Học viên không thể dành nhiều thời gian cho học tập và nghiên cứu.
- Ngoại ngữ của học viên chưa tốt nên khó sử dụng tài liệu nước ngoài. Tài liệu tiếng Việt chất lượng chưa cao.
- Đội ngũ cán bộ khoa học cùng một lĩnh vực nghiên cứu ít nên khó tìm người phản biện các công trình nghiên cứu, luận văn và luận án. Còn hiện tượng nể nang hoặc thiếu trách nhiệm trong việc đánh giá luận văn Thạc sĩ hoặc luận án Tiến sĩ.

Nguồn tin: Tuyển tập báo cáo Tham luận về thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".