Nghiên cứu và Phát triển công nghệ

Nghiên cứu chế tạo hệ thiết bị phân tích vết Thủy ngân (Hg) phục vụ quan trắc môi trường và kiểm soát thực phẩm

Thủy ngân (Hg) là một nguyên tố hóa học tồn tại rộng khắp trong môi trường và có nhiều ứng dụng thực tiễn phong phú. Tuy nhiên nó cũng là một trong những nguyên tố độc nhất, được coi là một chất ô nhiễm toàn cầu và là mối quan ngại trong nhiều các tiêu chuẩn chất lượng. Hiện nay, các phương pháp và trang thiết bị phân tích hàm lượng thủy ngân thường đòi hỏi hệ thiết bị cồng kềnh, chi phí cao nên chưa phù hợp tốt với điều kiện trong nước. Điều đó dẫn tới nhu cầu cấp bách đòi hỏi có hệ thiết bị phân tích vết thủy ngân có độ nhạy, độ chính xác cao, thao tác dễ dàng, chi phí vận hành thấp phù hợp với điều kiện trong nước.

Nghiên cứu tạo cây ngô chuyển gen giầu Carotenoid

Ngô là cây ngũ cốc quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu vì nó nuôi sống một phần ba dân số thế giới. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng thứ hai sau cây lúa. Nhu cầu về lương thực, thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu trên thế giới ngày một tăng và đã vượt so với khả năng sản xuất. Theo dự báo, đến 2020 nhu cầu về ngũ cốc tăng 45%. Ở châu Á, đến 2020, nhu cầu về ngô sẽ tăng đến 87% so với 1995. Sản lượng ngô ở Việt Nam không đáp ứng do yêu cầu ngày càng tăng. Năm 2013, Việt Nam phải nhập khẩu 2,6 triệu tấn. Đến 2016, Việt Nam bỏ ra hơn 1,6 tỷ USD để nhập 8,3 triệu tấn ngô (http://cafef.vn/loay-hoay-giam-phu-thuoc-nhap-khau-ngo-20170814161948898.chn). Tuy nhiên, chất lượng dinh dưỡng của ngô lại rất thấp: thiếu lysine, triptophan và rất ít carotenoid, đặc biệt là các carotenoid tiền vitamin A. Trong ngô, các Carotenoid tiền vitamin A gồm α-carotene, β-carotene, và β-cryptoxanthin với giá trị tương ứng chỉ từ 0 đến 1,3; 0,13 đến 2,7; và  0,13 đến 1,9 nmol/g.

Hoàn thiện quy trình công nghệ và triển khai dây chuyền sản xuất đồng (I) clorua nano ứng dụng làm phân bón vi lượng có tác dụng diệt trừ nấm bệnh cho một số cây trồng

Hiệu ứng diệt khuẩn, virut và nấm bệnh của các hợp chất nano đồng phụ thuộc vào kích thước hạt. Việc giảm kích thước hạt hợp chất nano đồng làm tăng hiệu ứng kháng nấm bệnh, vì diện tích bề mặt tiếp xúc tăng lên nhiều lần. Kích thước nanomet của vật liệu Ag, Cu, CuO, Cu2O giúp chúng tăng hoạt tính xúc tác, phản ứng với các phân tử hữu cơ. Việc gắn ion Cu+ vào các nhóm chức, các enzyme của nấm bệnh, vi sinh vật (nhất là nhóm sulfohydryl rất nhạy cảm với ion Cu+) dẫn đến bất hoạt nấm bệnh. Do tính chất đặc biệt của vật liệu nano hợp chất đồng nên khi sử dụng làm chất diệt trừ nấm bệnh, chỉ cần liều lượng thấp nhưng vẫn đạt hiệu quả cần thiết.

Nghiên cứu quá trình chế biến quặng apatit Lào Cai loại II thành các chế phẩm hóa chất theo phương pháp hóa học thân thiện với môi trường

Ở Việt Nam, quặng apatit Lào Cai loại II là một nguồn tài nguyên phốt phát lớn chưa được sử dụng nhiều trong công nghiệp (khoảng 1% sản lượng khai thác để sản xuất phân lân nung chảy và sản xuất photpho vàng), tất cả các quá trình công nghệ của các nhà máy sản xuất phân bón supe phốt phát đơn (Lâm Thao, Long Thành, Lào Cai, ...), sản xuất phân bón điamoni phốt phát (DAP) (Đình Vũ, Lào Cai), sản xuất đicanxi phốt phát (DCP) cấp thức ăn chăn nuôi (Phúc Lâm, Đức Giang Lào Cai) đều phải sử dụng loại quặng phốt phát cao cấp (quặng apatit Lào Cai loại I, tinh quặng tuyển nổi từ quặng apatit Lào Cai loại III). Hơn nữa, chúng đang gây ô nhiễm môi trường (phế thải photphogip, nước chứa axit flohydric vượt tiêu chuẩn, ...).

Nghiên cứu chế tạo hệ vi lưu tích hợp điện hóa ứng dụng trong tổng hợp vật liệu cấu trúc nano và phân tích y-sinh

Trên thế giới, công nghệ vi lưu (Microfluidic) là một lĩnh vực nghiên cứu phát triển rất mạnh trong thời gian gần đây và đang từng bước trở thành một công nghệ mũi nhọn với các ứng dụng đa dạng trong công nghiệp in phun, trong pin nhiên liệu lỏng, nghiên cứu hóa sinh, tổng hợp hóa chất, tách ADN, phân tích hóa sinh v.v... Đối với các quá trình tổng hợp hóa học, so với các phương pháp truyền thống, thiết bị vi lưu cho phép rút ngắn đáng kể thời gian phản ứng, tạo ra sản phẩm có độ tinh khiết cao và đồng đều với các tính chất đặc biệt. Ngoài ra hệ thiết bị này có độ an toàn cao khi vận hành, tiêu tốn rất ít hóa chất, có diện tích bề mặt hiệu dụng lớn, khả năng cải thiện đáng kể các quá trình truyền nhiệt, truyền khối cũng như hiệu suất của phản ứng. Mặt khác, do thiết bị vi lưu có thể kết nối dễ dàng vào các thiết bị quang phổ, sắc ký và các thiết bị phân tích khác nên dựa trên công nghệ này, có thể phát triển các giải pháp kỹ thuật hoàn chỉnh từ việc kiểm soát phản ứng cho đến phân tích sản phẩm đầu ra. Trong các ứng dụng y sinh, thiết bị vi lưu có thể được phát triển thành các công cụ chẩn đoán và phân tích tại chỗ (point-of-care) nhỏ gọn, dễ sử dụng, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao và đặc biệt có giá thành thấp phù hợp với điều kiện kinh tế của những nước đang phát triển, góp phần rút ngắn thời gian chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị các bệnh dịch nguy hiểm.

Nghiên cứu thông số khí quyển sử dụng quan trắc vệ tinh và đo đạc LIDAR trong đánh giá ảnh hưởng của khí quyển lên chất lượng ảnh vệ tinh

Khí quyển hấp thụ và tán xạ làm suy yếu dòng bức xạ truyền qua nó, dẫn tới ảnh hưởng đến chất lượng ảnh vệ tinh quang học nói chung và ảnh vệ tinh VNREDSat-1 nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm nhà khoa học thuộc Viện Vật lý địa cầu, Viện Hàn lâm KHCNVN do TS. Phạm Xuân Thành chủ trì đã phối hợp với các nhà khoa học thuộc Viện Vật lý và Cục Viễn thám quốc gia triển khai thực hiện đề tài VT/CB-02/14-15: “Nghiên cứu thông số khí quyển sử dụng quan trắc vệ tinh và đo đạc LIDAR trong đánh giá ảnh hưởng của khí quyển lên chất lượng ảnh vệ tinh”, thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ vũ trụ giai đoạn 2012-2015.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".