Nghiên cứu cơ bản

Nuôi nhân mô phôi vô tính, rễ bất định và rễ tơ sâm Ngọc Linh bằng hệ thống bioreactor

Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) được chứng minh là có giá trị dược liệu rất cao, xếp vào nhóm sâm quý của thế giới. Loài sâm này trong tự nhiên đang bị đe dọa do sự khai thác quá mức. Hiện Nhà nước đang triển khai thực hiện dự án đến năm 2023 “Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng phát triển thương hiệu quốc gia sâm Ngọc Linh” với trọng tâm là tìm giải pháp để xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia được bảo hộ trên thế giới cho các sản phẩm của cây sâm Ngọc Linh.

Nhân nuôi rệp đậu, phối chế thức ăn nhân tạo nuôi sâu khoang - Ứng dụng trong nông nghiệp sạch

Việc dùng thiên địch (côn trùng ký sinh, côn trùng bắt mồi) để bảo vệ cây trồng khỏi sự tấn công của các loại sâu bệnh gây hại không chỉ giúp bà con nông dân từng bước từ bỏ tập quán sử dụng thuốc trừ sâu mà còn hướng đến quy trình sản xuất nông sản an toàn chất lượng cao và bảo vệ môi trường, tạo bước tiến mới cho một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Trên thế giới, biện pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước, thậm chí ở Trung Quốc và Hà Lan còn có nhiều công ty sinh học sản xuất hàng loạt các loài thiên địch cung cấp cho nông dân thả trên đồng ruộng và nhà kính để phòng trừ nhiều loài sâu hại nguy hiểm.

Nghiên cứu sinh học, sự phân bố và nơi sống của các loài bọ xít hút máu ở một số tỉnh, thành phố của Việt Nam.

Bọ xít hút máu thuộc giống Triatoma đã được ghi nhận ở nước ta từ trước, nhưng hiện nay chúng đang có xu hướng phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước và di chuyển sống gần với con người đặc biệt là trong các khu dân cư của một số thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh. Bọ xít hút máu gây ảnh hưởng, phiền nhiễu đến sinh hoạt và cuộc sống, gây nên tâm lý lo ngại về sức khỏe của người dân khi chúng phát tán vào nhà tấn công, chích hút máu người và để lại vết thương sưng to thậm chí còn gây sốt sau khi hút máu. Hiện nay, các nghiên cứu về bọ xít hút máu với các dẫn liệu khoa học còn rất ít ỏi đặc biệt là các nghiên cứu về phân bố, sinh học, dịch tễ học, mối quan hệ giữa chúng với con người và động vật nuôi ở Việt Nam.

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ chế tạo Polylactic axit từ phế liệu nông lâm nghiệp

Trên thế giới hiện nay, các loại bao bì an toàn và thân thiện với môi trường được phát triển mạnh mẽ, các loại nhựa có nguồn gốc sinh học đang dần thay thế các loại nhựa có nguồn gốc dầu mỏ. Các nghiên cứu nhằm tạo ra các loại bao bì có khả năng phân hủy sinh học và thân thiện với môi trường đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhóm nghiên cứu. Các loại vật liệu phân hủy sinh học như polylactic axit (PLA), polyhydroxybutyrat (PHB) được xem là các ứng cử viên cho hướng phát triển này do có khả năng phân hủy trong tự nhiên, không gây ô nhiễm môi trường, không phụ thuộc vào tăng giá do quá trình khan hiếm dầu mỏ.

Chất giữ ẩm “CH” và tính năng ứng dụng

Trước tình hình khô hạn do sự biến đổi khí hậu từ những năm 2002 – 2003. PGS. TS Nguyễn Cửu Khoa cùng nhóm nghiên cứu Viện Khoa học vật liệu ứng dụng, TP. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu thành công chất giữ ẩm “CH” vào năm 2005 với các nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ phân hủy và sẵn có tại Việt Nam nhằm góp phần giảm lượng nước tưới cho cây trồng trong nông nghiệp và ứng biến với biến đổi khí hậu.
 

Công nghệ vi nhân giống quang tự dưỡng để nâng cao chất lượng cây giống cấy mô

Vi nhân giống, hay còn gọi là nhân giống in vitro, trong nhiều thập niên vẫn được xem là một trong những kỹ thuật hữu hiệu nhất dùng để nhân nhanh các giống cây trồng sạch bệnh đã được tuyển chọn hoặc các nguồn gien thực vật quý hiếm. Tuy nhiên phương pháp vi nhân giống truyền thống (conventional micropropagation) vẫn còn gặp một số giới hạn, ví dụ như giá thành cây cấy mô chưa đáp ứng yêu cầu của người trồng trọt do chất lượng và tỷ lệ sống cây cấy mô ở vườn ươm tương đối còn thấp, cũng như tỷ lệ nhiễm nấm khuẩn trong giai đoạn in vitro không nhỏ. Nguyên nhân chính của giới hạn này là do trong vi nhân giống truyền thống, bình nuôi cấy luôn được đậy kín dẫn đến tình trạng thiếu CO2 cần cho quang hợp. Thực vật cấy mô buộc phải sử dụng nguồn carbon hữu cơ đến từ đường, vitamin hay các hợp chất hữu cơ bổ sung vào môi trường làm nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu để tăng trưởng. Vì vậy cây cấy mô thiếu khả năng tự dưỡng do bộ máy quang hợp của cây họat động yếu, dẫn đến việc cây cấy mô tăng trưởng chậm ở giai đoạn vườn ươm với tỷ lệ sống không cao và đòi hỏi nhiều công chăm sóc. 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".