Nghiên cứu cơ bản

Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước và tảo độc tại hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), từ đó đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp nước hồ

Việc gia tăng dân số và phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp làm gia tăng nguồn dinh dưỡng đáng kể trong các thủy vực. Khi nguồn nước mặt giàu dinh dưỡng (đặc biệt là phốtpho) là nguyên nhân sự phát triển bùng phát của vi tảo trong đó có vi khuẩn lam (VKL) gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước. VKL có khả năng sản sinh các độc tố có độc tính cao. Sự có mặt các độc tố này tại các thủy vực được sử dụng làm nguồn cung cấp nước nuôi trồng thủy sản và nước sinh hoạt là một mối nguy hiểm tiềm tàng đối với sức khỏe con người, thủy sản và động vật nuôi trong lưu vực.

Hồ chứa Núi Cốc đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của người dân Thái Nguyên và một số khu vực lân cận. Hồ được xây dựng với nhiều mục đích như cung cấp nước cho hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, cấp nguồn nước mặt cho cộng đồng dân cư, du lịch... Trong những năm gần đây, nhiều thế mạnh của vùng hồ như nuôi trồng và đánh bắt thủy sản,... bị suy giảm do sự biến đổi chất lượng nước hồ. Hiện tượng nở hoa của vi khuẩn lam (VKL) đang có xu hướng ngày càng gia tăng tại hồ Núi Cốc. Việc khảo sát đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường hồ Núi Cốc, phát hiện các nguồn gây ô nhiễm, mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và sự phát sinh phát triển, tần suất xuất hiện và mật độ của VKL độc, dự báo diễn biến chất lượng nước hồ... là hết sức cần thiết nhằm tìm ra các giải pháp thích hợp trong quản lý bền vững tài nguyên nước, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, Viện Công nghệ môi trường đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước và tảo độc tại hồ Núi Cốc (Thái Nguyên); đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp nước hồ”.

Công nghệ sinh thái sử dụng thực vật thủy sinh trong xử lý nước phú dưỡng

Các chất hữu cơ, N và P từ nước thải sinh hoạt và hoạt động sản xuất của con người là nguyên nhân chủ yếu gây phú dưỡng (eutrophycation) ở các thủy vực nước ngọt. Nguồn nước mặt nội địa của Việt Nam nhất là các hồ và hồ chứa đang bị phú dưỡng ngày càng gia tăng kèm theo đó là sự bùng phát vi tảo bao gồm cả vi khuẩn lam (VKL) độc đã được phát hiện như loài Microcystis aeruginosa, làm mất cân bằng sinh thái và suy giảm chất lượng nước.

Khoanh vùng các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô tại một số khu bảo tồn biển của Việt Nam

Rạn san hô ngầm ước tính bao phủ trên 284.300 km², trong đó Đông Nam Á chiếm khoảng 32,3%. Các rạn san hô là nơi trú ngụ của hơn 4.000 loài cá nhiệt đới hoặc cá chuyên sống trong rạn san hô có giá trị kinh tế cao, chẳng hạn như các loài cá mú (Serranidae), cá hồng (Lutjannidae), cá hè (Lethrinidae)…

Nghiên cứu tạo phức hợp kháng thể + hạt nano silica phát quang để phát hiện nhanh vi khuẩn gây bệnh

Trong số các loại vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm, E.coli O157:H7 được xem là rất nguy hiểm với liều gây độc thấp (10-100 tế bào). Người ta đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để phát hiện chúng như: đếm tế bào dưới kính hiển vi, đếm khuẩn lạc trên đĩa thạch, miễn dịch học bằng enzym, đầu dò enzym, ELISA, kít chuẩn PCR. Phương pháp phát hiện E.coli O157:H7 trong thực phẩm mang tính pháp lý ở Việt Nam là sử dụng kỹ thuật làm giầu, xác định khuẩn lạc nghi ngờ E.coli O157:H7 trên đĩa thạch SMAC sau khi ủ ấm ở 37oC trong 24 giờ. Từ những khuẩn lạc nghi ngờ, tiến hành kiểm tra các tính chất sinh hóa và ngưng kết đặc hiệu để khẳng định là E.coli O157:H7. Tuy nhiên, tất cả các phương pháp nêu trên đều không thể phát hiện chính xác số lượng vi khuẩn ở nồng độ thấp. Để khắc phục nhược điểm nêu trên, người ta đã và đang ứng dụng các loại vật liệu nano phát quang như hạt silica chứa tâm màu hay chấm lượng tử QD chứa các nhóm chức năng sinh học trên bề mặt như một chất đánh dấu huỳnh quang để phát hiện nhanh và chính xác số lượng vi khuẩn gây bệnh thực phẩm bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang. Khâu cốt lõi của kỹ thuật sử dụng hạt nano silica chứa tâm màu là việc chế tạo ra được phức hợp giữa kháng thể đặc hiệu vi khuẩn đích với hạt silica phát quang bền vững.

Đo cao vệ tinh trong nghiên cứu cấu trúc địa chất biển Đông Việt Nam

Biển Đông Việt Nam là một khu vực rộng lớn, có cấu trúc địa chất đa dạng, phức tạp và có một tiềm năng khoáng sản rất lớn. Mặc dù đã trải qua nhiều năm thăm dò khảo sát nhưng trong khu vực vẫn còn rất nhiều nơi mà cấu trúc địa chất chỉ mới được biết đến rất ít, hoặc mới được khảo sát ở mức độ rất sơ lược. Sự hạn chế đó thường gây ra bởi bề dày lớp nước biển cũng như là do các vấn đề nhạy cảm giữa các nước trong khu vực.

Vào những năm 80 của thế kỷ trước, đo cao vệ tinh đã bắt đầu trở thành một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu biển. Từ đó đến nay đã có một số công trình nghiên cứu nhằm xây dựng mạng lưới, cải thiện mức độ chính xác của số liệu đo cao vệ tinh. Tiêu biểu là Sandwell D.T., và W.H.F.Smith (1997, 2009), GETECH (1996) tập hợp số liệu qua nhiều năm đo đạc bởi các vệ tinh như GEOSAT, ERS-1, TOPEX/POSEIDON và đã xây dựng được một mạng lưới số liệu đo cao vệ tinh 1’ x 1’ phủ đầy các đại dương. Nguồn số liệu đo cao vệ tinh đã và đang được khai thác một cách có hiệu quả để lấp đầy những khoảng trống số liệu mà khảo sát bằng tàu trên biển chưa thực hiện được.

Nghiên cứu chế tạo thực phẩm chức năng Heriglucan từ nấm Hầu Thủ

Nấm Hầu Thủ hay còn gọi là nấm Đầu Khỉ, có tên khoa học là Hericium erinaceus, là loại nấm dược liệu quý chứa đầy đủ thành phần dinh dưỡng, nguyên tố khoáng và vitamin. Từ lâu nấm Hầu Thủ đã được biết tới như là một loại thực phẩm bổ dưỡng được nhiều người ưa chuộng. Đặc biệt, nấm Hầu Thủ chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao có tác dụng rất tốt trong việc hỗ trợ phòng chống và điều trị bệnh viêm loét dạ dày, ung thư dạ dày, ung thư thực quản, cải thiện tình trạng suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi, tăng cường hệ miễn dịch, nâng cao sức đề kháng với tình trạng thiếu oxy, chống mệt mỏi, lưu thông tuần hoàn máu,…

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".