Nghiên cứu và Phát triển công nghệ

Công nghệ NANO VAST xử lý nước nhiễm Asen và kim loại nặng

Trước sự nhiễm độc asen trong nước ngầm ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, mới đây các nhà khoa học thuộc phòng Hóa vô cơ – Viện Hóa học đã nghiên cứu chế tạo và ứng dụng thành công hệ thống xử lý nước nhiễm asen và kim loại sử dụng công nghệ NanoVAST. Đây được coi là một giải pháp loại bỏ asen và các kim loại nặng hiệu quả, an toàn và kinh tế. Trên cơ sở công nghệ này có thể thiết kế hàng loạt các hệ xử lý asen cho nước ăn uống sử dụng ở quy mô gia đình, cụm gia đình, cơ quan xí nghiệp, trường học, bệnh viện….

Nghiên cứu công nghệ lên men và thu hồi nisin từ vi khuẩn Lactococcus lactis

Nisin (C143H230N42O37S7) là một bacterioxin, cấu tạo gồm 34 axit amin, có khối lượng phân tử 3.5 kDa, được tổng hợp bởi một số chủng thuộc loài Lactococcus lactis. Phạm vi ứng dụng trong bảo quản thực phẩm của nisin khá rộng, từ các sản phẩm tươi sống đến các loại thực phẩm lên men, đóng hộp, dạng rắn cũng như dạng nước. Sử dụng nisin thường không làm thay đổi cảm quan, không làm biến đổi chất lượng, không để lại dư lượng trong thực phẩm. Ngoài ra, dùng nisin để bảo quản thực phẩm đóng hộp sẽ làm giảm nhiệt độ và thời gian thanh trùng. Vì vậy, nisin đã trở thành chất chuyên biệt nguồn gốc sinh học có giá trị để bảo quản thực phẩm, khắc phục được nhược điểm của các phương pháp sử dụng hóa chất, chất kháng sinh, chiếu xạ. Hiện nay, nisin nằm trong danh mục các chất phụ gia có ký hiệu quốc tế E234, đã và đang được dùng để bảo quản thực phẩm ở hơn 50 quốc gia.

Tại Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan đầu tiên khởi xướng những nghiên cứu về nisin. Trong khuôn khổ đề tài cấp Viện KHCNVN, các nhà khoa học Viện Công nghệ Sinh học đã tiến hành nghiên cứu công nghệ lên men và thu hồi nisin từ vi khuẩn Lactococcus lactis. Nội dung nghiên cứu bao gồm: lựa chọn môi trường, thành phần môi trường, tác động của pH đối với sinh trưởng và tổng hợp nisin của chủng Lactococcus lactis 145, nghiên cứu thiết lập mô hình lên men và công nghệ thu hồi nisin. Kết quả đã thiết lập được quy trình lên men điều khiển và quy trình thu hồi bằng hấp phụ tế bào, nhờ đó năng suất tổng hợp nisin của chủng tăng lên gần hai lần và sản phẩm nisin thu được có độ tinh sạch rất cao.

Bộ kit chuẩn đoán cúm H1N1

Để đáp ứng kịp thời cho việc chẩn đoán cúm H1N1, Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu chế tạo thành công bộ kit chẩn đoán cúm H1N1 bằng PCR.

Nghiên cứu fucoidan và công nghệ sản xuất chúng từ rong nâu Việt Nam

Trong 10 năm gần đây, fucoidan đã trở thành đối tượng của hơn 300 công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới. Fucoidan có nhiều nhất ở rong nâu. Đây là một hợp chất sinh học hấp dẫn có tác dụng thúc đẩy các tế bào ung thư tự chết theo chương trình. Quá trình tự chết này được gọi là giáng hóa, một cơ chế bảo vệ giúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

Tiếp cận công nghệ sạch xử lý, tái chế bùn thải sinh học thành nguyên liệu tạo ra chế phẩm vi sinh vật hữu ích phục vụ nông lâm nghiệp

Bùn thải sinh học là bùn thải phát sinh từ các hệ thống xử lý nước thải theo phương pháp sinh học. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội, bùn thải sinh học đang trở thành một gánh nặng cho các doanh nghiệp không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ở các nước có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Theo cục bảo vệ môi trường Mỹ (US-EPA), chi phí xử lý bùn thải chiếm tới 50% chi phí vận hành của toàn hệ thống. Ở Việt Nam, bùn thải chủ yếu được xử lý bằng cách ép loại nước, phơi khô, đổ bỏ hay chôn lấp, chỉ một phần rất nhỏ được sử dụng làm phân bón. Việc đổ bỏ, chôn lấp bùn thải đã và đang gây ra sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Nghiên cứu chế tạo thử nghiệm tủ khử khuẩn dụng cụ y tế bằng khí ozone

Ngày nay, khi cuộc sống càng phát triển thì con người càng phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe, trong đó những căn bệnh mắc phải do nhiễm khuẩn bệnh viện đang gia tăng và có diễn biến phức tạp. Những bệnh mắc phải này làm tăng tần suất mắc bệnh, chi phí điều trị, cũng như gây ra nguy cơ tử vong cao, đặc biệt là gia tăng sự phát triển của các vi khuẩn kháng kháng sinh. Điều đó có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăm sóc và điều trị của nhân viên y tế. Chính vì vậy, mặc dù được biết đến từ đầu thế kỷ 19, nhưng đến nay nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) ngày càng trở thành một vấn đề bức xúc và là một thách thức lớn đối với các cán bộ ngành Y tế.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".