Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiên cứu chế tạo hệ dẫn thuốc nano Paclitaxel phối hợp Curcumin và đánh giá tác động của chúng lên các tế bào ung thư

Ung thư là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới, với hơn 10 triệu trường hợp mắc mới mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong đã giảm trong nhiều năm qua nhờ hiểu biết rõ hơn về sinh bệnh học khối u, các thiết bị chẩn đoán và điều trị ngày càng được cải tiến. Những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực sinh học phân tử và tế bào đã giúp hỗ trợ con người hiểu biết rõ hơn về sinh lý bệnh của nhiều bệnh khác nhau. Các hệ phân phối thuốc nhằm dẫn thuốc tới đích chính xác hơn, tập trung thuốc tại đích tác dụng trong thời gian dài hơn, đồng thời bảo vệ các mô khác trong cơ thể là đề tài đang được tập trung nghiên cứu trong nhiều năm nay.

Điều tra, nghiên cứu các loài trong chi Nghệ (Curcuma L.) ở Tây Nguyên

Chi Nghệ (Curcuma L.) là một trong những chi có khá nhiều loài được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh. Cho đến năm 2011, ở Việt Nam có 11/19 loài nghệ có thân rễ (củ) được dùng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh liên quan đến đường ruột và dạ dày, như đau bụng, đầy hơi, đau dạ dày, dạ dày viêm loét. Đặc biệt một số loài có thể kiềm chế tế bào ung thư, như các loài: Nghệ ten đồng (Curcuma aeruginosa Roxb.), Nghệ lá hẹp (C. angustifolia Roxb.), Nghệ trắng (C. aromatica Salisb.), Nghệ nam bộ (C. cochinchinensis Gagnep.), Nghệ harmand (C. harmandii Gangep.), Nghệ rừng (C. kwangsiensis S.G. Lee & C.F. Liang), Nghệ (C. longa L.), Nghệ pierre (C. pierreana Gagnep.), Nghệ sâm (C. trichosantha Gagnep.), Nghệ rễ vàng (C. zanthorrhiza Roxb.), Nghệ đen (C. zedoaria (Berg.) Rosc.). Ngoài ra, một số loài nghệ cũng được dùng chữa trị các bệnh liên quan đến gan như vàng da, thiểu năng gan và sung huyết gan, viêm gan mạn tính, xơ gan đau nhức, sưng to gan lách...

Nghiên cứu chế tạo hệ thiết bị phân tích vết Thủy ngân (Hg) phục vụ quan trắc môi trường và kiểm soát thực phẩm

Thủy ngân (Hg) là một nguyên tố hóa học tồn tại rộng khắp trong môi trường và có nhiều ứng dụng thực tiễn phong phú. Tuy nhiên nó cũng là một trong những nguyên tố độc nhất, được coi là một chất ô nhiễm toàn cầu và là mối quan ngại trong nhiều các tiêu chuẩn chất lượng. Hiện nay, các phương pháp và trang thiết bị phân tích hàm lượng thủy ngân thường đòi hỏi hệ thiết bị cồng kềnh, chi phí cao nên chưa phù hợp tốt với điều kiện trong nước. Điều đó dẫn tới nhu cầu cấp bách đòi hỏi có hệ thiết bị phân tích vết thủy ngân có độ nhạy, độ chính xác cao, thao tác dễ dàng, chi phí vận hành thấp phù hợp với điều kiện trong nước.

Đánh giá tính hiệu quả của hệ thống trạm quan sát địa chấn Việt Nam trên cơ sở tính toán sai số trong việc xác định các tham số cơ bản của chấn tiêu động đất

Dự án “Tăng cường mạng lưới quan sát động đất phục vụ công tác báo tin động đất và cảnh báo sóng thần ở Việt Nam” được triển khai thực hiện từ năm 2008, đã kết thúc năm 2017 với tổng số "30 trạm dải rộng" trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, 30 trạm địa chấn của mạng trạm địa chấn Quốc gia nêu trên đã đi vào hoạt động. Cho đến năm 2015 chưa có nghiên cứu nào đánh giá về hiệu quả ghi động đất của các trạm địa chấn nêu trên, do đó độ chính xác của các tham số chấn tiêu động đất được xác định theo băng ghi từ hệ thống trạm này cũng chưa được làm rõ. Vì vậy, đánh giá tính hiệu quả của hệ thống trạm quan sát địa chấn Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao độ chính xác trong việc xác định các tham số chấn tiêu động đất là nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết trong thực tế địa chấn, cũng như làm cơ sở thẩm định, nghiệm thu các kết quả và sản phẩm của Dự án “Tăng cường mạng lưới quan sát động đất phục vụ công tác báo tin động đất và cảnh báo sóng thần ở Việt Nam”.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".