Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình

.

Trong bối cảnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vũ trụ (CNVT) ở Việt Nam và trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta về sử dụng khoảng không vũ trụ (KKVT) vì mục đích hòa bình là một yêu cầu cấp thiết và được xác định là một trong các nhiệm vụ quan trọng trong “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2006. Để góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ chung đó, Chương trình khoa học công nghệ vũ trụ cấp Nhà nước (giai đoạn 2008-2011) đã triển khai thành công Đề tài nghiên cứu mã số CTVT-13 “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc xây dựng khung pháp luật của Việt Nam về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình” (PGS.TS Nguyễn Hồng Thao và PGS.TS. Nguyễn Bá Diến là đồng Chủ nhiệm, Đại học Quốc gia Hà Nội là Cơ quan chủ trì).

Bài viết dưới đây giới thiệu đến độc giả một số nội dung và kết quả của Đề tài CTVT-13 nói trên. Đây mới chỉ là kết quả bước đầu trong lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ này. Để có thể tiến tới xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh về các hoạt động vũ trụ và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình của Việt Nam cần phải có các nghiên cứu  toàn diện và thấu đáo, sự phối hợp chặt chẽ của nhiều đơn vị có liên quan, dưới sự chỉ đạo và định hướng  thống nhất của các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm, trong đó có Ủy ban Vũ trụ Việt Nam.

Yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam đầy đủ, hiện đại trong lĩnh vực hoạt động vũ trụ

Từ nhận thức về tầm quan trọng của CNVT, của việc khai thác KKVT, nhiều quốc gia trên thế giới đã đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ cho việc nghiên cứu, chiếm lĩnh và sử dụng KKVT. Các hoạt động sử dụng KKVT đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực như thăm dò tài nguyên thiên nhiên trên mặt đất, dự báo thời tiết và các thiên tai đe dọa loài người, định vị vệ tinh, đặc biệt là thông tin viễn thông. Công cuộc nghiên cứu, sử dụng KKVT đã, đang và sẽ không ngừng mang lại những lợi ích to lớn và thiết thực cho cuộc sống của con người trên trái đất, mà những thành tựu của nó chưa thể hình dung hết trong thời điểm hiện tại.

Bên cạnh những lợi ích về nhiều mặt, các hoạt động nghiên cứu, sử dụng KKVT cũng có những tác động bất lợi cho con người. Những vấn đề như rác thải vũ trụ, sử dụng vũ trụ vào các mục đích quân sự, ô nhiễm môi trường, tranh chấp về sử dụng KKVT, an toàn xã hội, vấn đề bí mật cá nhân, chủ quyền và an ninh quốc gia… đang trở thành những nguy cơ hiện hữu đối với cộng đồng quốc tế và các quốc gia. Những tác động tiêu cực này, nếu không được giải quyết thỏa đáng, sẽ thách thức cuộc sống của con người trên trái đất, đe dọa hòa bình và an ninh thế giới. Thực tế đó đặt ra yêu cầu hình thành các nguyên tắc và quy phạm của pháp luật quốc tế và quốc gia nhằm điều chỉnh và quản lý hoạt động trên KKVT.

Đối với Việt Nam, trong khoảng 30 năm vừa qua, nghiên cứu và ứng dụng CNVT (trong các lĩnh vực thông tin liên lạc, khí tượng thủy văn, viễn thám, định vị nhờ vệ tinh,...) đã có một số đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại hóa, đảm bảo quốc phòng an ninh. Tuy nhiên, phạm vi và hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng CNVT ở nước ta còn hạn chế, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống pháp luật và khoa học pháp lý về sử dụng khoảng không vũ trụ Việt Nam cũng trong tình trạng tương tự. Ngoại trừ một số ít các quy định pháp luật nằm rải rác trong các văn bản pháp luật về khoa học công nghệ, khí tượng thủy văn, thông tin liên lạc, hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông (Luật Viễn thông, Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ,…), chúng ta chưa có khung pháp luật điều chỉnh một cách hệ thống và toàn diện các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động CNVT, sử dụng KKVT. Về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực này, Việt Nam mới chỉ tham gia 2 trong số 5 Hiệp ước chính của Liên hợp quốc về sử dụng KKVT và gia nhập một số tổ chức quốc tế về vũ trụ như Hiệp hội Viễn thông quốc tế (ITU), Tổ chức Vệ tinh viễn thông quốc tế (ITSO), Tổ chức Vệ tinh di động quốc tế, Tổ chức thông tin vũ trụ quốc tế Intersputnik, Liên minh Viễn thông châu Á - Thái Bình Dương (APT)…

Việc xây dựng, ban hành các chính sách, chiến lược, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh, quản lý và thúc đẩy các hoạt động khoa học CNVT, sử dụng KKVT là việc cần thiết trên con đường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khai thác, sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình.

Phân tích một số mô hình khung pháp luật vũ trụ quốc gia tiêu biểu và khả năng vận dụng đối với Việt Nam

Qua việc nghiên cứu mô hình khung pháp luật tiêu biểu của một số quốc gia trên thế giới, có thể nhận thấy sự khác biệt nhất định về pháp luật giữa các nước có sự phát triển CNVT mạnh và các nước đang và mới phát triển về CNVT. Các nước có trình độ CNVT phát triển mạnh thường có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh; trong khi một số nước vẫn chưa xây dựng hoặc mới bước đầu xây dựng pháp luật về sử dụng KKVT. Từ việc so sánh hệ thống chính sách, pháp luật của các nước, có thể khái quát một số mô hình khung pháp luật vũ trụ quốc gia tiêu biểu như sau:

(i) Mô hình 01: Một đạo luật chung điều chỉnh tất cả các lĩnh vực liên quan đến sử dụng KKVT

Các nước theo mô hình này ban hành 01 văn bản pháp luật điều chỉnh tổng thể và tương đối đầy đủ tất cả các vấn đề, các khía cạnh pháp lý liên quan đến hoạt động khai thác và sử dụng KKVT. Chỉ có rất ít các quốc gia xây dựng theo mô hình này (như Nam Phi, Pháp,…) bởi một số lý do sau đây:

Thứ nhất, việc xây dựng một đạo luật chung, có phạm vi điều chỉnh lớn thường là rất khó khăn, đòi hỏi trình độ lập pháp cao và sự tham gia của nhiều cơ quan, ban, ngành, nhiều cá nhân, tổ chức ở các lĩnh vực khác nhau;

Thứ hai, sử dụng KKVT là một lĩnh vực mới, đến nay chưa thể thống kê cũng như khai phá hết các tiềm năng và giá trị của vũ trụ phục vụ đời sống con người. Các lĩnh vực hoạt động vũ trụ vẫn không ngừng mở rộng, do đó việc xây dựng một đạo luật chung điều chỉnh tất cả các hoạt động vũ trụ ít mang tính khả thi;

Thứ ba, một đạo luật có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực sẽ gây khó khăn cho việc thực thi và sửa đổi, bổ sung. Điều này sẽ hạn chế tính hiệu quả của đạo luật khi áp dụng trong thực tế.

(ii) Mô hình 02: Một đạo luật chuyên biệt về hoạt động vũ trụ và các luật bổ trợ điều chỉnh các vấn đề liên quan (trong lĩnh vực viễn thông, viễn thám, tần số vô tuyến điện…)

Đây là mô hình khung pháp luật được xây dựng khá phổ biến trên thế giới hiện nay. Trong số các quốc gia đã hình thành hệ thống pháp luật quốc gia về vũ trụ thì có tới 2/3 số nước đã và đang triển khai xây dựng và hoàn thiện pháp luật vũ trụ theo hướng này (điển hình là Liên bang Nga, Ô-xtrây-li-a, U-crai-na, Anh, Hàn Quốc, Hà Lan…). Các quốc gia này đã ban hành một đạo luật vũ trụ chung, thống nhất, mang tính nguyên tắc, điều chỉnh các vấn đề cơ bản, trọng tâm và trực tiếp của hoạt động vũ trụ như các khái niệm cơ bản, nguyên tắc và mục đích của hoạt động vũ trụ, quản lý nhà nước về hoạt động vũ trụ, đăng ký, cấp phép hoạt động vũ trụ, và hợp tác quốc tế trong hoạt động vũ trụ,... Bên cạnh đạo luật này, mỗi nước còn có nhiều văn bản riêng điều chỉnh các lĩnh vực có liên quan như viễn thông, viễn thám, tần số vô tuyến điện, thương mại vũ trụ, trách nhiệm pháp lý, bảo vệ môi trường vũ trụ….

Mô hình khung pháp luật về KKVT này thể hiện nhiều ưu điểm, khắc phục được những khó khăn, hạn chế trong mô hình 01 nêu trên.

(iii) Mô hình 03: Không có luật riêng về hoạt động vũ trụ mà mỗi lĩnh vực có liên quan sẽ được điều chỉnh bằng một văn bản pháp lý riêng

Đây là mô hình mà hệ thống pháp luật bao gồm nhiều văn bản điều chỉnh từng lĩnh vực riêng, cụ thể của hoạt động vũ trụ. Một số quốc gia trên thế giới hiện đang có hệ thống pháp luật vũ trụ được xây dựng theo mô hình này gồm: Hoa Kỳ, Ác-hen-ti-na, Nhật Bản, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, An-giê-ri.

Đề xuất lựa chọn mô hình khung pháp luật vũ trụ quốc gia phù hợp với Việt Nam

Cả ba mô hình xây dựng khung pháp luật trên đều có những ưu nhược điểm nhất định. Căn cứ vào tình hình thực tiễn của Việt Nam, chúng ta nên áp dụng mô hình 02. Đề xuất này được đưa ra căn cứ vào những lý do cơ bản sau đây:

(i) Xuất phát từ thực tiễn và điều kiện của Việt Nam

Thứ nhất, truyền thống lập pháp của Nhà nước Việt Nam là mỗi ngành luật đều có nhiều văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có một đạo luật chuyên biệt là trung tâm điều chỉnh những vấn đề cơ bản nền tảng chung; bên cạnh đó là các văn bản hướng dẫn thi hành luật khung, các văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan. Hoạt động lập pháp đã và đang theo hướng này, ví dụ Luật Biển Việt Nam năm 2012. Nếu như Luật Biển Việt Nam nhằm nội luật hóa Công ước Luật biển 1982 thì đạo luật chuyên biệt về hoạt động vũ trụ sẽ nội luật hóa các cam kết quốc tế có liên quan về sử dụng, khai thác KKVT nhằm mục đích hòa bình. Đạo luật này sẽ quy định các nguyên tắc thống nhất và các quy định chung về quản lý các chủ thể, khách thể và nội dung và các hoạt động trong KKVT nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trong KKVT, tăng cường sử dụng, khai thác, bảo vệ và quản lý nhà nước về KKVT, khuyến khích sự phát triển và hợp tác quốc tế, giữ gìn hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, các lĩnh vực có liên quan tới CNVT và hoạt động vũ trụ, ứng dụng CNVT (như viễn thông, viễn thám, tần số vô tuyến điện, thương mại,…) tuy cùng là ứng dụng CNVT nhưng lại có những điểm khác biệt và đặc thù riêng cần điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật cụ thể. Hiện tại, chúng ta đã xây dựng được hệ thống quy định pháp luật tương đối ổn định về các lĩnh vực này (như Luật Viễn thông 2009, Luật Tần số vô tuyến điện 2009, Luật Công nghệ cao 2008, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, Luật Thương mại 2005,…). Vì vậy, phương án phù hợp và khả thi là xây dựng luật chuyên biệt về hoạt động vũ trụ điều chỉnh những vấn đề chung; đồng thời rà soát, sửa đổi bổ sung quy định của các luật hiện hành nêu trên để có hệ thống quy định pháp luật đồng bộ, thống nhất về sử dụng KKVT, ứng dụng CNVT.

Thứ ba, ở khía cạnh kỹ thuật lập pháp, việc xây dựng được một đạo luật tổng hợp, bao trùm tất cả các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động vũ trụ đòi hỏi trình độ lập pháp cao, chưa phù hợp ở Việt Nam.

(ii) Phù hợp với xu thế lập pháp hiện nay của các quốc gia trên thế giới

Kết quả nghiên cứu khảo sát thực tế, lấy ý kiến từ nhiều chuyên gia, nhà khoa học của các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị nghiên cứu, cơ sở đào tạo ở Trung ương và Hà Nội có liên quan đến lĩnh vực hoạt động vũ trụ cho thấy 55% số người được hỏi (171/307 người) ủng hộ việc lựa chọn phương án xây dựng khung pháp luật vũ trụ Việt Nam theo mô hình 02. Đồng thời, 96% số người được hỏi cùng thể hiện quan điểm cần thiết phải xây dựng một đạo luật chuyên biệt điều chỉnh các vấn đề chung về hoạt động sử dụng KKVT ở Việt Nam.

NguyenBaDienMô hình khung pháp luật về các hoạt động sử dụng KKVT
vì mục đích hòa bình của Việt Nam (đề xuất)

Trên cơ sở khảo sát thực tế và tiến hành các hoạt động khoa học, các cơ quan nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước nhanh chóng triển khai và có những bước đi thiết thực để hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình, góp phần nâng cao vị thế và tiềm lực khoa học CNVT cho quốc gia tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và trong tương lai của đất nước.

Nguồn tin: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến
Giám đốc Trung tâm Luật Biển và Hàng hải quốc tế
Chủ nhiệm đề tài CTVT-13, Chương trình KHCN vũ trụ  (giai đoạn 2008-2011)
Xử lý tin: Bích Diệp

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".