Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Một số kết quả nghiên cứu của Đề tài TN3/X09 về thực trạng thể chế phát triển bền vững vùng Tây Nguyên

.

Các cơ quan Đảng, Chính phủ, các bộ ngành TW và chính quyền các tỉnh vùng Tây Nguyên đã ban hành một khối lượng lớn các văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách nhằm tạo ra khung thể chế cho sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên kết quả khảo sát, nghiên cứu của các nhà khoa học và ý kiến của các cán bộ cơ sở từ tỉnh đến huyện, xã, thôn bản ở các tỉnh Tây Nguyên đều cho thấy đến nay chưa có một khung thể chế đủ mạnh về mặt luật pháp và tương thích với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của vùng, làm giá đỡ cho sự phát triển bền vững vùng Tây Nguyên.

Trước thực trạng đó, đề tài TN3/X09 "Xây dựng luận cứ khoa học cho việc bổ sung và đổi mới hệ thống thể chế phát triển bền vững vùng Tây Nguyên" do  PGS.TS Hà Huy Thành, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam làm chủ nhiệm, đã được triển khai thực hiện (trong thời gian từ tháng 11/2012 - 11/2014). Đây là đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì và được Hội đồng KHCN cấp Nhà nước nghiệm thu đạt loại Khá vào ngày 31/5/2015 (với 6 bài báo công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành).

Về mặt học thuật, các nghiên cứu toàn diện về thể chế phát triển bền vững vùng Tây Nguyên là chưa có. Tuy nhiên đã có khá nhiều nghiên cứu về các khía cạnh riêng lẻ của thể chế phát triển các trụ cột của phát triển bền vững (kinh tế, văn hóa - xã hội hoặc môi trường) vùng Tây Nguyên.

Tham khảo những kết quả nghiên cứu riêng lẻ đã có và khảo sát thực tế tại các tỉnh vùng Tây Nguyên, cho phép các tác giả phác họa bức tranh tổng thể về diễn tiến của các thể chế chính thức của Trung ương và địa phương trong quá trình phát triển của các tỉnh vùng Tây Nguyên. Bài viết này trình bày một số trong những phát hiện thực tế về thể chế phát triển bền vững vùng Tây Nguyên như sau:

Một cách tổng quát, có thể nói dưới tác động của các chính sách phát triển trong vòng 20 năm qua, vùng Tây Nguyên đã bị biến đổi cực kỳ mạnh mẽ. Trong những xáo trộn ghi nhận được thì dễ thấy nhất là xu thế không bền vững áp đảo xu thế bền vững. Phần lớn các chính sách hợp thành thể chế phát triển của các địa phương vùng Tây Nguyên xuất phát từ mục tiêu của người hoạch định chính sách hơn là từ hiện trạng thực tế và từ mong đợi của cộng đồng địa phương. Khi ban hành các chính sách thường bỏ qua các bước khảo sát cần có, thiếu sự tham vấn và phản hồi tại chỗ, ít có sự tham gia thích đáng của giới khoa học và người dân. Có thể đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng có độ vênh khá lớn giữa các chính sách của quốc gia với đặc điểm tự nhiên, văn hóa xã hội và môi trường của vùng. Trong khi một địa phương hay cả vùng Tây Nguyên là một đơn vị địa lý - nhân văn hoàn chỉnh thì các chính sách, thể chế có xu hướng tiếp cận đơn lẻ (một hay một số mặt nào đó về kinh tế, văn hóa, môi trường) khu biệt trong một đơn vị quản lý hành chính hoặc giới hạn trong quản lý ngành ít có mối liên kết với nhau, việc ai nấy lo. Các vấn đề liên ngành chưa được đề cập một cách thỏa đáng trong các chính sách phát triển vùng.

Nét nổi bật dễ nhận thấy thể chế có phần mất cân đối. Đặc điểm tự nhiên và nhân văn của vùng chưa được tính đến đầy đủ trong các cơ chế chính sách phát triển. Các nỗ lực tập trung vào sản xuất nhiều hơn là các vấn đề văn hóa - xã hội và môi trường. Chẳng hạn, trong nông nghiệp, chú trọng sản xuất sơ cấp mà xem nhẹ cả chuỗi giá trị như chế biến, tiêu thụ, chất lượng, tính cạnh tranh v.v... Quá trình đổi mới kích thích động lực làm kinh tế, mà sự nhận thức về tính bền vững xã hội và môi trường không theo kịp. Cơ sở hạ tầng, chế biến, giao thông vận tải và xử lý môi trường không bắt kịp quá trình phát triển kinh tế xã hội. Hệ quả là có hàng loạt yếu tố không bền vững xuất hiện, đe dọa sự ổn định của xã hội và tính bền vững của môi trường.

Về thể chế kinh tế- xã hội: Định canh, định cư vẫn là một thực tế hàng ngày ở Tây Nguyên, trong đó nhu cầu vốn để ổn định định canh định cư rất lớn nhưng thể chế đầu tư vốn từ cấp Trung ương vừa ít, vừa chậm, không đáp ứng được nhu cầu, làm chậm tiến độ thi công tại các điểm định canh định cư. Nguồn vốn từ một số huyện đến xã chưa kịp thời, dẫn đến tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc còn chậm, đặc biệt là việc triển khai thực hiện Chương trình 1592.

Mô hình công ty TNHH một thành viên thuộc tỉnh chuyển đổi từ các nông, lâm trường còn mang tính hành chính, không tách biệt chức năng kinh doanh và chức năng công ích, vừa gây lãng phí nguồn nhân lực, vừa cản trở sự năng động sáng tạo của doanh nghiệp. Các hiệp hội doanh nghiệp hoạt động phụ thuộc nhiều vào UBND tỉnh, đảm đương nhiều nhiệm vụ của cơ quan công quyền; do vậy có nguy cơ hành chính hóa cao, không đại diện cho tiếng nói của các doanh nghiệp thành viên. Thêm nữa, các tổ chức chính trị - xã hội cũng đảm đương nhiều nhiệm vụ công quyền, do đó tạo ra sự chồng chéo, dậm chân nhau trong hoạt động với cơ quan công quyền.

Về các thể chế văn hóa – xã hội: Những người quan tâm đến văn hóa - xã hội đều có chung nhận xét văn hóa bản địa bị mai một, xã hội truyền thống bị phá vỡ, trong khi một mô hình văn hóa xã hội mới chưa hình thành để thay thế, còn mô hình nông thôn mới đang ở giai đoạn thử nghiệm. Đời sống văn hóa-xã hội đang bị biến đổi mạnh, nhưng không được định hướng để bắt kịp và thích ứng với cơ chế thị trường, tốc độ đô thị hóa và tiến trình hội nhập. Trong khi đó, công tác xây dựng năng lực và đào tạo nguồn nhân lực còn chậm, cản trở tính làm chủ và tự chủ của cộng đồng bản địa.

Riêng các chính sách trong lĩnh vực giáo dục và y tế là được đánh giá khá tốt, làm thay đổi đươc nhận thức cũng như góp phần cải thiện được đời sống của nhân dân.

Liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các thể chế kích thích việc khai thác hơn là bảo vệ và sử dụng hiệu quả, bền vững. Tài nguyên đất, nước và đa dạng sinh học bị tác động lớn nhất. Quá trình di cư tự do không được kiểm soát tốt làm trầm trọng thêm những khiếm khuyết trong các chủ trương lớn về sử dụng đất đai, di dân có chủ định, xây dựng vùng kinh tế mới, phát triển lâm nghiệp. Sự phát triển nóng của cà phê, cao su, tiêu, điều từ lâu đã vượt quá giới hạn bền vững của quy hoạch, nay không còn không gian để mở rộng thêm nữa. Các lâm trường quốc doanh phát triển rầm rộ những năm sau 1975, chủ yếu để khai thác rừng tự nhiên. Rừng tự nhiên đã cạn kiệt, tranh chấp đất rừng và thiếu vốn trồng rừng là những thách thức lớn mà các chính sách, cơ chế hiện thời khó mà cứu vãn được sự tồn tại của các doanh nghiệp này. Việc xây dựng quá nhiều các công trình thủy điện đã, đang và sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái không chỉ của vùng Tây Nguyên mà còn của các tỉnh thuộc hạ lưu các dòng sông xuất phát từ Tây Nguyên.

Những phát hiện bước đầu về những bất cập và những thiếu hụt trong hệ thống thể chế hiện tại chính là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bổ sung và đổi mới đồng bộ hệ thống thể chế phát triển bền vững vùng Tây Nguyên tương thích với yêu cầu phát triển xã hội.

Một số hình ảnh khảo sát thực địa của đề tài:

Ha Huy Thanh 1 Ha Huy Thanh 2

Đoàn công tác làm việc tại Gia Lai, Lâm Đồng

Ha Huy Thanh 3 Ha Huy Thanh 4
Tọa đàm khoa học với các học giả, chuyên gia trường Đại học Malaya, Malaysia

Đoàn công tác khảo sát tại Malaysia

PGS.TS. Hà Huy Thành
Chủ nhiệm đề tài TN3/X09
Xử lý tin: Bích Diệp

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".