Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Điều tra đa dạng tài nguyên côn trùng ở vùng Tây Bắc, đề xuất giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng bền vững

.

Côn trùng là một trong những nhóm sinh vật đa dạng nhất và có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của con người. Đã từ lâu đời, nhiều loài côn trùng có ích ở vùng Tây Bắc Việt Nam được người dân địa phương khai thác, sử dụng trong đời sống hàng ngày như là nguồn thực phẩm giàu protein và các nguyên tố vi lượng có lợi cho sức khỏe. Ở nhiều nơi người dân cũng biết sử dụng những dịch vụ sinh thái mà côn trùng mang lại để ứng dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp. Trong lĩnh vực y học cổ truyền, côn trùng là nguồn dược liệu quý, có giá trị cao, được sử dụng từ trong chữa trị bệnh tật và bồi bổ sức khỏe. Bên cạnh đó, nhu cầu làm cảnh đối với một số loài côn trùng đã bắt đầu xuất hiện và đang phát triển nhanh.

Tuy nhiên, cho đến nay việc sử dụng côn trùng và các sản phẩm côn trùng trong đời sống và thực tiễn sản xuất của người dân miền núi phía Bắc nước ta nói chung vẫn chủ yếu dựa vào tri thức cổ truyền và kinh nghiệm dân gian mà chưa có những minh chứng khoa học chắc chắn, cụ thể. Bên cạnh đó, những tác động trực tiếp của con người trong việc khai thác quá mức và những tác động gián tiếp thông qua phát triển kinh tế-xã hội, cơ sở hạ tầng… đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nguồn tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên côn trùng nói riêng ở vùng Tây Bắc. Vì vậy, nghiên cứu đánh giá hiện trạng và giá trị của nguồn tài nguyên côn trùng vùng miền núi phía Bắc Việt Nam và đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh vật quan trọng này là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Để góp phần giải quyết những vấn đề này, Viện Hàn lâm KHCNVN đã giao nhiệm vụ thực hiện đề tài VAST04.02/14-15 “Điều tra đa dạng tài nguyên côn trùng ở vùng Tây Bắc, đề xuất giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng bền vững” cho Viện Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật chủ trì, TS Phạm Quỳnh Mai là chủ nhiệm. Đề tài được thực hiện từ 2014 đến 2016. Ngày 7/10/2016, Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm KHCNVN đã nghiệm thu đề tài và đánh giá đề tài đạt loại Xuất sắc.

 pqmai1
48 huyện thuộc 10 tỉnh thuộc Tây Bắc là Điểm điều tra, nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là làm rõ tính đa dạng và giá trị tài nguyên của các loài côn trùng ở vùng Tây Bắc, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển, khai thác và sử dụng chúng một cách bền vững.

Để đạt được mục tiêu này, đề tài đã thực hiện 4 nội dung chính gồm: Điều tra, khảo sát và lập Danh sách các loài côn trùng tài nguyên theo giá trị sử dụng và đánh giá mức độ đa dạng của chúng ở vùng Tây Bắc; Cung cấp những dẫn liệu về phân bố, trữ lượng và phương thức khai thác, sử dụng một số loài côn trùng tài nguyên quan trọng ở khu vực nghiên cứu; Xây dựng cơ sở dữ liệu các loài côn trùng tài nguyên vùng Tây Bắc; Đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên côn trùng ở khu vực nghiên cứu.

Qua 2 năm thực hiện, đề tài đã thu được những kết quả chính như sau:

  • Điều tra bổ sung, tổng hợp tài liệu và lập Danh sách 1145 loài côn trùng có ích thuộc 74 họ, 12 bộ ở khu vực miền núi Tây Bắc. Trong đó, bộ cánh Vẩy (Lepidoptera) có số lượng loài lớn nhất, với 413 loài, chiếm 36,07% tổng số loài côn trùng tài nguyên; bộ Cánh cứng (Coleoptera) với 358 loài, chiếm 31,27%; bộ Cánh màng (Hymenoptera) với 284 loài, chiếm tỷ lệ 24,8% trên tổng số loài côn trùng tài nguyên tại vùng nghiên cứu; thấp nhất là bộ Cánh giống (Homoptera) và bộ Cánh đều (Isoptera), mỗi bộ chỉ mới xác định có 1 loài.
  • Phát hiện một loài côn trùng mới, đó là loài ong ký sinh Zaglyptogastra vietnamica Long, 2015 thuộc họ Braconidae, bộ cánh Màng Hymenoptera và ghi nhận mới 9 loài côn trùng cho khu vực nghiên cứu, trong đó có 7 loài thuộc họ Kiến (Formicidae) là Crematogaster travanconresis, Oecophyllas maragdina, Pachycondyla cf. astuta, Polyrhachis proxima, Polyrhachis dives, Pristomyrmex punctatus, Tetraponera rufonigra và 2 loài thuộc Họ Ong vàng (Vespidae) là Phimenes flavopictus, Rhynchium brunneum brunneum.
  • Xây dựng tiêu chí xác định 8 nhóm côn trùng chức năng: (1) Nhóm có giá trị làm thực phẩm; (2) Nhóm có giá trị làm dược phẩm, thực phẩm chức năng; (3) Nhóm có vai trò dịch vụ sinh thái; (4) Nhóm cung cấp nguyên vật liệu có ích cho con người; (5) Nhóm có giá trị thẩm mỹ; (6) Nhóm có giá trị cho nghiên cứu khoa học; (7) Nhóm côn trùng có giá trị phỏng sinh học; (8) Nhóm có giá trị bảo tồn. Xác định được 61 loài côn trùng có giá trị làm thực phẩm; 32 loài có giá trị làm dược phẩm, thực phẩm chức năng; 4 loài cung cấp nguyên vật liệu có ích cho con người là Ong mật, Tằm sắn và Tằm dâu, Cánh kiến; nhóm có vai trò “dịch vụ sinh thái” có 573 loài; nhóm có giá trị thẩm mỹ có 84 loài, trong đó chủ yéu là các loài bướm và một số loài thuộc bộ Cánh cứng, Cánh màng; nhóm có giá trị bảo tồn có 14 loài, trong đó 5 loài thuộc bộ cánh Vảy, 9 loài thuộc bộ Cánh cứng.
  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu các loài côn trùng tài nguyên vùng Tây Bắc, gồm các thông tin như Tên Khoa học, Tên phổ thông, Tên địa phương; Phân bố địa lý, Phân bố thời gian; Phân bố khong gian; Mục đích sử dụng; Phương tiện thu bắt; Giá trị tài nguyên; Dạng sử dụng; Tình trạng bảo tồn.
  • Xây dựng thành công phương pháp và thử nghiệm tính trữ lượng của 3 loài côn trùng có giá trị làm thực phẩm quan trọng ở vùng Tây Bắc là sâu Chít (Brihaspa atrostigmella), Sâu tre (Omphisa fuscidentalis) và Bọ xít nhãn (Tessaratoma papillossa). Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên lãnh thổ tỉnh Sơn La trữ lượng ấu trùng Sâu chít vào khoảng 859kg, Sâu tre là 11.000kg và Bọ xít nhãn là 9.000kg.

pqmai2
Thành viên đề tài VAST04.02/14-15 trong chuyến thực địa Tây Bắc
pqmai3

Thu mẫu côn trùng ban đêm bằng phương pháp bẫy đèn

Đề tài cũng đã đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên côn trùng vùng Tây Bắc theo các nhóm chức năng như sau:

  • Đối với nhóm côn trùng làm thực phẩm. Nói chung, những loài côn trùng có giá trị sử dụng làm thực phẩm ở vùng Tây Bắc như Bọ xít, Châu chấu, Sâu tre, Sâu chít, Sâu đuông… đều là những loài côn trùng gây hại cho cây trồng hoặc cây tự nhiên, vì vậy việc khai thác chúng không gây ảnh ưởng đến sự suy giảm đa dạng mà về một góc độ nào đó còn có yếu tố tích cực, làm giảm đáng kể số lượng côn trùng hại, bảo vệ được mùa màng... Các loài côn trùng khác được sử dụng làm thực phẩm như Ong mật, Tằm sắn, Tằm dâu…có thể phát triển rộng bằng việc vận động nhân nuôi trong các hộ gia đình.
  • Trong nhóm côn trùng cung cấp nguyên vật liệu thì Cánh kiến là loài quan trọng nhất. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiện nay diện tích nuôi Cánh kiến và sản lượng Cách kiến ở vùng Tây Bắc đang bị suy giảm mạnh. Để phát triển loài côn trùng có giá trị kinh tế đặc biệt này cần có những giải pháp đồng bộ trong việc lựa chọn vùng nuôi trồng, phát triển tập đoàn cây chủ, cung cấp các kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch và các dịch vụ khác.  
  • Đối với nhóm côn trùng có giá trị làm thuốc cần tiến hành điều tra tri thức bản địa trong cộng đồng và thu thập mẫu vật để phân tích giá trị dược phẩm làm cơ sở cho việc khai thác nguồn tài nguyên côn trùng quan trọng này ở vùng Tây Bắc.
  • Nhóm côn trùng có vai trò dịch vụ sinh thái ở vùng Tây Bắc chưa được nghiên cứu nhiều, còn có rất ít thông tin. Đề tài đã ghi nhận: khu vực rừng núi, đặc biệt những vùng rừng nguyên sinh, rừng già hoặc những vùng nông nghiệp liền kề với những Khu bảo tồn thiên nhiên, khu vực vườn rừng, nhóm côn trùng thụ phấn, côn trùng ký sinh và bắt mồi có tính đa dạng cao hơn, mức độ phong phú nhiều hơn và được bảo vệ tốt hơn so với khu vực đồng bằng hoặc những nơi gần các khu dân cư, đô thị đông người. Nhiều loài ong thụ phấn thuộc giống Amegilla và Bombus (họ Ong Mật Apidae) chỉ bắt gặp ở những nơi có độ cao trên 300m, một số loài thiên địch như Cánh cứng cánh ngắn Paederus fuscipes chỉ phân bố trên sinh quần nông nghiệp ở vùng núi, trong những hệ sinh thái nông nghiệp chưa bị ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu và phân hoá học. Vì vậy, việc duy trì và phát triển một hệ thống nông nghiệp sạch và an toàn có thể tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài côn trùng có vai trò dịch vụ sinh thái vùng Tây Bắc phát triển tốt hơn.

Bên cạnh các kết quả đạt được nêu trên, đề tài cũng đã công bố 07 bài báo khoa học, trong đó có 01 bài trên tạp chí thuộc danh mục SCI-E, 02 bài trong Hội thảo khoa học quốc tế,  và hướng dẫn bảo vệ thành công 01 Thạc sỹ khoa học.

 

Nguồn tin: TS. Phạm Quỳnh Mai, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Xử lý tin: Minh Tâm

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".