Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiệm thu Dự án điều tra cơ bản: “Điều tra, đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác quặng sắt, vật liệu xây dựng và các tác động của chúng đến môi trường, kinh tế, xã hội tại ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập tỉnh Phú Thọ”

.

Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía Bắc, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại như đá xây dựng, quặng sắt, kaolin, felspat, nước khoáng. Hiện nay các hoạt động khai thác khoáng sản đang diễn ra khá mạnh mẽ và đã đạt được nhiều kết quả. Tính đến hết năm 2014, sản lượng khai thác Caolanh-felspat được cấp theo giấy phép: 507.000 tấn; Khoáng chất công nghiệp: 107.000 tấn; Sắt: 1.489.000 tấn; Đá xây dựng: 1.121.500 m3; Đá xi măng: 1.951.000 tấn; Sét gạch ngói: 306.830 m3; Cát, sỏi lòng sông: 727.200 m3. Tổng doanh thu từ hoạt động khai thác khoáng sản là 1.971 tỷ đồng.

Huyện Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập là những huyện trọng điểm của  hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại như quặng sắt, limonit, kaolin, quăczit, mica, barit, talc, than, đá xây dựng, cát, sỏi… Việc khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn ba huyện không chỉ đáp ứng nhu cầu về nguồn nguyên liệu cho các ngành giao thông, công nghiệp mà còn thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương. Điều này đã góp phần mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đẩy mạnh xây dựng mạng lưới giao thông, đầu tư xây dựng công trình văn hóa, phúc lợi nhằm tạo sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thu được thì hoạt động khai thác khoáng sản ở huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập cũng gây nên những tác động không nhỏ đến môi trường xung quanh như làm mất diện tích đất sản xuất, làm cạn kiệt nguồn nước do sử dụng nước trong khai thác và chế biến, gây xô lũ tràn bùn thải vào đất canh tác và tạo ra các chất rắn không hòa tan, làm nhiều tuyến đường giao thông bị hư hỏng xuống cấp... Tất cả các điều trên đang từng bước tác động tiêu cực đến hoạt động của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ… cũng như ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Nhằm đánh giá các tác động từ hoạt động khai thác chế biến quặng sắt, vật liệu xây dựng đến môi trường và phát triển kinh tế, xã hội địa phương, qua đó đề xuất các giải pháp gắn kết khai thác khoáng sản với bảo vệ môi trường, phục vụ phát triển bền vững, nhóm các nhà khoa học của Trung tâm Phát triển công nghệ cao, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tiến hành dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác quặng sắt, vật liệu xây dựng và các tác động của chúng đến môi trường, kinh tế, xã hội tại ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập tỉnh Phú Thọ” thuộc Chương trình Điều tra cơ bản. Dự án được tiến hành trong thời gian từ 01/2014-12/2016, do ThS. Nguyễn Văn Huân làm chủ nhiệm, và đã được Hội đồng KHCN cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá đạt loại Khá tại phiên họp nghiệm thu vào ngày 16 tháng 02 năm 2017.

nvhuan1 nvhuan2

Khu khai thác, chế biến đá của Công ty Cổ phần xây dựng và khai thác đá Mỹ Lung

Phỏng vấn cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Sơn

Trên cơ sở đối chiếu với ba mục tiêu chính của nhiệm vụ là: (i) Đánh giá được hiện trạng quản lý, khai thác chế biến quặng sắt và vật liệu xây dựng trên địa bàn ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập tỉnh Phú Thọ; (ii) Đánh giá được tác động chủ yếu của hoạt động khai thác chế biến quặng sắt, vật liệu xây dựng đến môi trường, kinh tế và xã hội tại ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập tỉnh Phú Thọ; (iii) Đề xuất được các giải pháp tổng thể và riêng biệt nhằm giảm thiểu tác động xấu của việc khai thác chế biến quặng sắt và vật liệu xây dựng đối với địa phương, Hội đồng đánh giá cao kết quả nghiên cứu đã đạt được, cụ thể như sau:

  • Xây dựng Báo cáo hiện trạng quản lý, khai thác quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn nghiên cứu. Trong đó, báo cáo về hiện trạng quản lý hoạt động khai thác quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng gồm: (i) Hiện trạng cấp giấy phép khai thác; (ii) Công tác thanh tra, kiểm tra vi phạm pháp luật; (iii) Công tác bảo vệ các mỏ chưa khai thác. Báo cáo về hiện trạng khai thác quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng gồm: (i) Hiện trạng khai thác khoáng sản vùng dự án; (ii) Hiện trạng khai thác và chế biến quặng sắt; (iii) Hiện trạng khai thác và chế biến đá làm vật liệu xây dựng. 
  • Báo cáo về tác động của hoạt động khai thác, chế biến quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng đến môi trường, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trong đó bao gồm các báo cáo về tác động của hoạt động khai thác quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng đến các thành phần môi trường: (i) đất, (ii) nước, (iii) không khí, (iv) thảm thực vật và các báo cáo về tác động của hoạt động khai thác quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng đến (i) đất đai, (ii) sinh kế và việc làm, (iii) cơ sở hạ tầng và trách nhiệm xã hội, (iv) ngân sách địa phương.
  • Lập 01 bản đồ hiện trạng môi trường khai thác, chế biến quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng vùng dự án có tỷ lệ 1:50.000.
  • Xây dựng các giải pháp tổng thể và giải pháp riêng biệt nhằm giảm thiểu tác động xấu của việc khai thác chế biến quặng sắt và vật liệu xây dựng đến môi trường, kinh tế - xã hội của địa phương, bao gồm: Giải pháp tổng thể gồm các giải pháp phi công trình (Nhóm giải pháp về thể chế chính sách; Nhóm giải pháp về quản lý; Nhóm các giải pháp về trợ giúp cho quản lý) và giải pháp công trình (Quy hoạch bãi thải, ...). Giải pháp riêng biệt gồm các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường (nước, đất, không khí) và các giải pháp giảm thiểu tác động xấu của hoạt động khai thác, chế biến quặng sắt và đá làm vật liệu xây dựng đến kinh tế - xã hội. Đây là kết quả chính của nhiệm vụ, là cơ sở khoa học để đạt được các mục tiêu của nhiệm vụ.

Dự án đã công bố  02 bài báo trên các tạp chí khoa học trong nước.

Nguồn tin: ThS. Nguyễn Văn Huân - Chủ nhiệm dự án
Xử lý tin: Minh Tâm

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".