Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Điều tra, nghiên cứu các loài trong chi Nghệ (Curcuma L.) ở Tây Nguyên

.

Chi Nghệ (Curcuma L.) là một trong những chi có khá nhiều loài được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh. Cho đến năm 2011, ở Việt Nam có 11/19 loài nghệ có thân rễ (củ) được dùng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh liên quan đến đường ruột và dạ dày, như đau bụng, đầy hơi, đau dạ dày, dạ dày viêm loét. Đặc biệt một số loài có thể kiềm chế tế bào ung thư, như các loài: Nghệ ten đồng (Curcuma aeruginosa Roxb.), Nghệ lá hẹp (C. angustifolia Roxb.), Nghệ trắng (C. aromatica Salisb.), Nghệ nam bộ (C. cochinchinensis Gagnep.), Nghệ harmand (C. harmandii Gangep.), Nghệ rừng (C. kwangsiensis S.G. Lee & C.F. Liang), Nghệ (C. longa L.), Nghệ pierre (C. pierreana Gagnep.), Nghệ sâm (C. trichosantha Gagnep.), Nghệ rễ vàng (C. zanthorrhiza Roxb.), Nghệ đen (C. zedoaria (Berg.) Rosc.). Ngoài ra, một số loài nghệ cũng được dùng chữa trị các bệnh liên quan đến gan như vàng da, thiểu năng gan và sung huyết gan, viêm gan mạn tính, xơ gan đau nhức, sưng to gan lách...

Ở Việt Nam, một số loài nghệ được trồng trọt phục vụ cho đời sống và nghiên cứu. Một số loài trong tự nhiên như Nghệ đen, Nghệ ten đồng, Nghệ rễ vàng, Nghệ trắng hiện cũng đã được nghiên cứu về hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều loài nghệ hoang dại khác chưa được nghiên cứu về các hoạt chất sinh học. Mặt khác, một số loài nghệ mới cho khoa học liên tiếp được phát hiện ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam cho thấy sự cần thiết điều tra, nghiên cứu, thu thập bổ sung các dẫn liệu khoa học cho loài thuộc chi Nghệ.

Nhận thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu của các loài trong chi Nghệ trên, Viện Hàn lâm KH&XHVN đã giao đề tài “ Điều tra, nghiên cứu các loài trong chi Nghệ (Curcuma L.) ở Tây Nguyên” - Mã số đề tài: VAST 04.10/15-16, do TS. Nguyễn Quốc Bình thuộc Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam làm chủ nhiệm, thực hiện từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016, gia hạn đến tháng 6 năm 2017.

Sau 2 năm thực hiện, đề tài đã cung cấp danh sách của 20 loài nghệ có ở Tây Nguyên, bổ sung một loài nghệ mới là Curcuma singularis Gagnep, cùng với đó là hai hợp chất mới được tìm ra là Curcusin A (MC-460) và Curcusin B (MC-461). Đề tài đã thu được 42 mẫu tiêu bản (11 số hiệu) thuộc 11 loài nghệ thu thập ở Tây Nguyên, các mẫu vật đã khâu trên bìa cứng để bảo quản và các báo cáo chuyên đề được lưu giữ tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.

Các kết quả chính của đề tài là:

  • Xây dựng hồ sơ cơ sở dữ liệu của các loài nghệ ở Tây Nguyên gồm 20 loài, chiếm 66,6% so với tổng số các loài nghệ ở Việt Nam (30 loài). Trong đó, Đắk Lắk tập trung nhiều loài nhất (10 loài = 50%), Gia Lai có số loài ít nhất (6 = 30%) so với tổng số loài nghệ ở Tây Nguyên.
  • Xác định tên khoa học của “Cây khỏe” hay "Sâm đá" là Curcuma singularis Gagnep, thuộc chi Nghệ (họ Gừng), là loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam, phân bố ở Kon Tum và Gia Lai và điều tra được 5 bài thuốc chữa bệnh từ “Cây khỏe” của đồng bào dân tộc Ba Na.
  • Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu "Cây khỏe" đã xác định được 47 hợp chất (chiếm 62.96 % tổng số tinh dầu). Các hợp chất chính là camphor (23,63%), isoborneol (2,24%), endo-borneol (3,06%), terpinen-4-ol (3,51%), copaene (2,56%), acoradiene (2,89%) và turmerol (2,65%),...
  • Xử lý mẫu thực vật, tạo dịch chiết và phân đoạn của “Cây khỏe” đã phân lập được 8 hợp chất từ "Cây khỏe" và xác định được cấu trúc của 8 hợp chất này: 3-hydroxy-4-methoxy benzoic acid (MC-450), 1,7-bis (3,4-dihydroxyphenyl) heptane-3,5,7-triol (MC-460), 1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3-methoxyphenyl) heptane-2,4,5,6,7-pentaol (MC-461), rugosic acid B (MC-438), 2,3-butanediol (MC-467), meso-2,3-butanediol (MC-468), furan-2,3-diol (MC-471) và ethyl-β-D-glucopyranoside (MC-472). Trong đó, hai hợp chất Curcusin A (MC-460) và Curcusin B (MC-461) là hai hợp chất mới, lần đầu tiên được phân lập từ thiên nhiên.
  • Dịch chiết etanol và các dịch chiết phân đoạn (n-hexan, clorofom và etyl axetat) của “Cây khỏe” thể hiện tác dụng ức chế sEH yếu; dịch chiết phân đoạn nước cho thấy hiệu quả hứa hẹn nhất để ức chế hoạt động xúc tác của enzym sEH. 02 hợp chất mới diarylheptanoid (Curcusin A và Curcusin B) thể hiện hoạt tính ức chế sEH mạnh, trong đó, Curcusin A còn có thể ức chế hoạt động xúc tác của enzym sEH với giá trị IC50 = 35.5 ± 2.3 µM. Vì vậy, Curcusin A rất cần được quan tâm và phát triển.
  • QuocBinh1

Ngoài ra, một số kết quả của đề tài đã được công bố  trong các tạp chí trong nước và nước ngoài, cụ thể như sau:
1. Nguyễn Quốc Bình, Nguyễn Phương Hạnh, 2015, Đặc điểm hình thái một số loài trogn chi Nghệ (Curcuma) có tác dụng làm thuốc ở Tây Nguyên. Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6: 1044-1049. NXB KHKT & CN.
2. Nguyen Manh Cuong, Doan Thi Van, Ninh The Son, To Dao Cuong, Pham Ngoc Khanh, Nguyen Quoc Binh, Tran Thi Viet Thanh, Ji Sun Lee, Ah Reum Jo, and Young Ho Kim, 2017, Inhibitory Effects of Novel Diarylheptanoids and Other Constituents of the Rhizomes of Curcuma singularis on the Catalytic Activity of Soluble Epoxide Hydrolase. Bull. Korean Chem. Soc. Vol. 38, 112–115. (SCI).
3. Nguyen Quoc Binh, Hoang Anh Tuan, Nguyen Van Dat, Tran Thi Viet Thanh, Nguyen Phuong Hanh, Nguyen Manh Cuong, Nguyen Trung Thanh, 2017,  A new record Species for Flora Vietnam - Curcuma singularis Gagnep. (Zingiberaceae). Tạp chí Khoa học, Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Vol. 33, No. 1: 25-29.

Đề tài đã được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá và xếp loại Khá vào ngày 9 tháng 10 năm 2017.

Nguồn tin: Nguyễn Quốc Bình - Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam
Xử lý tin: Minh Tâm

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".