Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ biển tại Viện Hải Dương học

.

Sở Hải dương học Nghề cá Đông dương (Service Océanographique des Pêches de l\'Indochine) - tiền thân của Viện Hải dương học ngày nay được thành lập ngày 14 tháng 9 năm 1922. Trải qua gần 90 năm hoạt động và phát triển, cùng với những thăng trầm của lịch sử đất nước, với nhiều tên gọi khác nhau: Viện Hải dương học Đông dương (01/12/1929); Viện Hải dương học Nha Trang (1952); Hải học Viện Nha Trang (1954); Viện Nghiên cứu biển Nha Trang (1975), đến năm 1993, là Viện Hải dương học với trụ sở chính ở Nha Trang và 2 phân viện trực thuộc ở Hải Phòng và Hà Nội. Năm 2004, phân viện ở Hải Phòng và Hà Nội được tách khỏi viện Hải dương học theo Quyết định của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Hiện nay viện Hải dương học là một trong 30 viện nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, với 139 cán bộ trong đó có 16 tiến sĩ (3PGS, 1TSKH) và 36 thạc sĩ, 11 phòng nghiên cứu chuyên sâu, 1 tàu nghiên cứu biển, 1 phòng thiết bị phân tích và đặc biệt Viện đang được đầu tư dự án “Phòng thí nghiệm cấp Viện KH & CN Việt Nam về nghiên cứu Sinh học – Động lực học biển” với các thiết bị, máy móc đồng bộ và hiện đại nhằm thực hiện tốt chiến lược khoa học và công nghệ biển của đất nước nói chung và nhiệm vụ của Viện Hải dương học nói riêng. “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ biển” là một trong các chức năng, nhiệm vụ đó.

I. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc thiết lập và quản lý các khu bảo tồn biển
Viện Hải dương học là cơ quan đầu tiên đề xuất thiết lập khu bảo tồn biển khi tham gia thực hiện Chương trình biển Quốc gia, giai đoạn 1985-1990. Với những nghiên cứu về đa dạng sinh học, hiện trạng sử dụng tài nguyên và tiềm năng bảo tồn trong khuôn khổ hợp tác với WWF, UNEP và đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện đã đề xuất quy hoạch 8 khu bảo tồn biển ở vùng biển phía Nam, bao gồm: Cù Lao Chàm, Lý Sơn, vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Hòn Cau, Phú Quí, Côn Đảo và Phú Quốc. Tất cả các khu này hiện đã chính thức được đưa vào quy hoạch hệ thống bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 theo quyết định 742/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính Phủ. Trong những năm gần đây, Viện đã tiến hành các nghiên cứu bổ sung và cung cấp tư liệu về đa dạng sinh học, nguồn lợi và chất lượng môi trường và tư vấn cho các cơ quan chức năng trong việc phân vùng chức năng và lập kế hoạch quản lý các Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, vịnh Nha Trang, Phú Quốc. Viện cũng nghiên cứu và tư vấn cho quản lý hợp phần biển của 2 Vườn Quốc Gia Côn Đảo và Núi Chúa. Hoạt động giám sát hệ sinh thái và tài nguyên được tiến hành thường xuyên ở các khu bảo tồn nói trên nhằm hỗ trơ quản lý thích ứng của các khu bảo tồn.

II. Phục hồi nguồn lợi tự nhiên và các hệ sinh thái đặc trưng của biển
1. Phục hồi nguồn lợi vẹm xanh (Perna viridis) ở đầm Nha Phu - Khánh Hòa
Kết quả nghiên cứu thử nghiệm trong thời gian 1997 – 1998 đã cho phép kết luận rằng nguyên nhân biến mất của nguồn lợi vẹm xanh tại đầm Nha Phu- Khánh Hòa là do khai thác quá mức và hủy diệt quần cư (habitat). Nghiên cứu phục hồi trong khuôn khổ của 2 đề tài nhỏ (cấp tỉnh và cấp cơ sở) được thực hiện vào năm 2001 - 2002 bằng cách di giống từ Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế) về đầm Nha Phu và xây dựng mô hình mẫu với sự tham gia của cộng đồng. Bài học lớn nhất từ mô hình là sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà khoa học và cộng đồng địa phương trong triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Kết quả nghiên cứu đã được ngư dân tự giác mở rộng quy mô góp phần cải thiện đời sống cho trên 400 hộ dân. Kết quả của đề tài đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội quan trọng đó là phục hồi nguồn lợi vẹm xanh tự nhiên tại địa phương, bằng chứng là hiện nay người nuôi địa phương có thể thu giống hoàn toàn ngoài tự nhiên để nuôi thương phẩm.

2. Phục hồi rạn san hô bị suy thoái
Nghiên cứu các giải pháp phục hồi các vùng rạn san hô bị suy thoái đã được Viện Hải dương học bắt đầu tiến hành từ năm 2001 ở Côn Đảo. Hoạt động phục hồi sau đó được tiến hành ở Bình Định, Nha Trang (2002 – 2004, đề tài Nhà nước KC 0907), Phú Quốc (2005, dự án UNEP/GEF). Viện cũng đã hỗ trợ một doanh nghiệp du lịch tại Nha Trang quy hoạch sử dụng vùng biển và tái tạo cảnh quan dưới nước thông qua phục hồi san hô và sinh vật rạn (2009). Hiện nay, Viện đang chuẩn bị tiến hành một số dự án phục hồi rạn san hô theo các mô hình có sự tham gia của các thành phần liên quan như các khu bảo tồn biển, doanh nghiệp du lịch và cộng đồng nhằm phục vụ du lịch biển và tái tạo nguồn lợi thủy sản.


Các nhà khoa học Viện Hải Dương học khảo sát các rạn san hô bị suy thoái

3. Phục hồi rừng ngập mặn bị phá hủy do phát triển kinh tế xã hội

Phục hồi rừng ngập mặn ở Cam Ranh - Khánh Hoà

Viện Hải dương học với vai trò là cơ quan tư vấn đã phối hợp với Sở Thủy sản Bình Định (nay là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện đề tài “Điều tra khảo sát và phục hồi hệ sinh thái, sử dụng hợp lý và bảo tồn nguồn lợi vùng Cồn Chim- đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” giai đoạn 2003-2004. Thành công lớn nhất của đề tài là đã phục hồi được 6 ha rừng ngập mặn do bị chặt phá đắp đìa nuôi tôm của dân địa phương và đưa ra được phân vùng chức năng  khu sinh thái Cồn Chim.

Với sự tài trợ của tổ chức phi chính phủ Anh (Rufford Small Grand), Viện đã triển khai dự án phục hồi rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại hai huyện Vạn Ninh (2006) và Cam Ranh (2008), Khánh Hòa. Kết quả dự án đã phục hồi được 2ha rừng ngập mặn ở Vạn Ninh và 3ha rừng ngập mặn ở Cam Ranh.

Ý nghĩa thực tiễn và bài học quan trọng được rút ra từ các hoạt động của đề tài và dự án này đó là đã nâng cao được nhận thức của cộng đồng và thay đổi tư duy của cơ quan chức năng địa phương trong việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái biển. Mặt khác sự thành công của đề tài/dự án đã khẳng định vai trò không thể thiếu của cộng đồng và chính quyền địa phương trong việc tham gia thực hiện và bảo vệ các hệ sinh thái.

III. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và nuôi trồng các sinh vật biển có giá trị nhằm phục hồi nguồn lợi và phát triển nuôi trồng bền vững

1. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình công nghệ

Cá ngựa thân trắng trưởng thành

Từ năm 1979, Viện đã xây dựng được quy trình sinh sản nhân tạo tôm sú (Penaeus monodon) giống. Quy trình đã được phổ biến và ứng dụng rộng rãi vào sản xuất giống phục vụ cho nuôi tôm thương phẩm địa phương ngay từ những năm 1980. Kết quả này đã được thưởng Huy chương vàng trong Hội chợ phát triển kinh tế của địa phương (Phú Khánh cũ), góp phần giúp tỉnh Khánh Hòa trở thành trung tâm cung cấp giống tôm nuôi chủ yếu cho cả nước và thúc đẩy nghề nuôi tôm sú xuất khẩu phát triển. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá cao và khen ngợi thành quả này nhân chuyến đến thăm Viện.

Dự án bảo vệ nguồn lợi cá ngựa do Canada tài trợ được Viện thực hiện từ năm1993. Sau gần 20 năm tập trung nghiên cứu và thử nghiệm, đến nay đã có 4 loài cá ngựa được sinh sản nhân tạo thành công tại Việt Nam đó là cá ngựa đen (Hippocampus kuda), cá ngựa vằn (H.comes), cá ngựa gai (H. spinosissimus), đặc biệt gần đây là cá ngựa thân trắng (H. kellogii) là loài quý hiếm và giá trị thương mại lớn nhất trong 4 loài trên.

Với sự tài trợ của Dự án Hỗ trợ Nuôi trồng Thuỷ sản biển và nước lợ (Support to Marine and Brackish Aquaculture: SUMA) – Đan Mạch (2004 -2005), Viện đã thử nghiệm sinh sản thành công loài ốc đụn (Trochus niloticus) và thả nuôi phục hồi 10.000 con giống ở vùng biển Ninh Vân, Khánh Hòa. Đây là loài động vật thân mềm có giá trị mà nguồn lợi đang có nguy cơ cạn kiệt.

Trong giai đoạn 2007-2008, với nguồn kinh phí địa phương, Viện đã thực hiện đề tài “Hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương mại loài cá khoang cổ đỏ Amphiprion frenatus”. Đây là loài cá được người nuôi rất ưa chuộng do chúng có màu sắc sặc sỡ, dễ thích nghi trong điều kiện nuôi giữ và đặc biệt là luôn sống cộng sinh cùng hải quỳ. Trước đây 100% nguồn cá cảnh này trên thị trường đều được đánh bắt ngoài tự nhiên. Kết quả đề tài đã sản xuất được 10.000 cá khoang cổ đỏ thương mại. Đặc biệt Viện đã cung cấp hàng ngàn con giống cá khoang cổ và cá ngựa cho hoạt động thả giống phục hồi tại khu bảo tồn Hòn Mun, vịnh Nha Trang nhân ngày đa dạng sinh học thế giới (22/5) và ngày môi trường thế giới (5/6). Sản phẩm chính của đề tài là hoàn thiện được công nghệ sản xuất giống và nuôi thương mại cá khoang cổ đỏ. Viện có thể chuyển giao quy trình này theo yêu cầu của các địa phương trong nước. Đề tài đã được trao giải khuyến khích của Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa năm 2009.

Cá khoang cổ mẹ đang chăm sóc trứng Cá khoang cổ bố mẹ và đàn cá con 1 tháng tuổi


Hiện nay Viện đang chủ trì đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi thương mại một số loài cá cảnh có giá trị xuất khẩu”, thuộc chương trình KC.06.05/06-10 giai đoạn 2008-2010. Sản phẩm quan trọng của đề tài là đã xây dựng được quy trình sản xuất giống và nuôi thương mại một số loài cá cảnh biển (cá ngựa, cá khoang cổ nemo, cá thia đồng tiền) và nước ngọt (cá dĩa, neon và cá chép koi) có giá trị. Viện đã tham gia Hội chợ Thủy sản Việt Nam tại TP. Cần Thơ năm 2010, các sản phẩm của đề tài đã được Ban tổ chức Hội chợ đánh giá cao và được UBND TP. Cần Thơ tặng Bằng khen về thành tích “tham gia tích cực Hội chợ Thủy sản Việt Nam”. Hiện nay đề tài đã sản xuất đủ sản phẩm giao nộp 60.000 con cá thương phẩm của 6 loài nghiên cứu và đang hoàn thiện báo cáo tổng kết nghiệm thu đề tài.


Đóng cá thả phục hồi ở Hòn Mun Nha Trang

Sự thành công của đề tài có một ý nghĩa kinh tế và xã hội quan trọng đó là tạo ra một nghề mới cho người dân ven biển đảo, tận dụng những trại tôm giống ngưng hoạt động do sản xuất không hiệu quả ở khu vực miền Trung để sản xuất giống cá khoang cổ; góp phần giảm áp lực khai thác và phục hồi nguồn lợi cá cảnh tự nhiên, đồng thời đáp ứng một phần nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

2. Nuôi trồng rong nho biển làm thực phẩm rau sạch
Đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam: “Nuôi trồng rong nho biển làm thực phẩm” được thực hiện giai đoạn 2006-2007. Kết quả đề tài đã di trồng thành công giống rong nho biển (Caulerpa lentilifera J. Agardh) có nguồn gốc từ Nhật Bản về nuôi trồng tại vùng biển Khánh Hòa. Sản phẩm chính của đề tài là đã xây dựng được mô hình nuôi trồng rong nho biển đạt năng suất 10-15tấn/ha/năm tại địa phương; Sự thành công của đề tài đã góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi nhằm cung cấp sản phẩm rau sạch cho nhu cầu trong nước, nhất là các khu vực ven biển và phục vụ bộ đội nơi hải đảo xa bờ. Đề tài đã nghiệm thu cấp Viện KH & CN Việt Nam đạt loại xuất sắc.

3. Nuôi tôm hùm lồng bền vững
Đây là dự án hợp tác giữa Viện Hải dương học và Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của Úc (Australian Centre for International Agricultural Research - ACIAR). Pha I (2005-2007), dự án đã nghiên cứu nuôi thử nghiệm tôm hùm kết hợp với vẹm xanh, sử dụng vẹm xanh như hệ thống lọc sinh học nhằm giảm thiểu tác động xấu của nuôi trồng thủy sản đến môi trường đồng thời sử dụng vẹm xanh làm thức ăn cho tôm hùm thay thế thức ăn truyền thống là cá tạp. Kết quả cho thấy hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình nuôi sinh thái kết hợp tôm hùm và vẹm xanh. Mô hình đã được người nuôi địa phương áp dụng và nhân rộng. Pha II (2009-2013), dự án đang tiến hành thử nghiệm dùng thức ăn tổng hợp thay thế cá tạp để nuôi tôm hùm thương phẩm tại khu vực Đầm Bấy, vịnh Nha Trang, nhằm giảm áp lực khai thác nguồn lợi cá tự nhiên tiến tới phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững đối tượng tôm hùm – một nghề nuôi truyền thống của Khánh Hòa.

IV. Nghiên cứu ứng dụng các hoạt chất sinh học có nguồn gốc từ sinh vật biển
Từ năm 1992, Viện đã xây dựng được “Quy trình chiết xuất hoạt tính lysate từ máu sam” dùng trong phép thử (TEST) sinh học nhằm phát hiện các nội độc tố trong các đối tượng cần nghiên cứu. Nghiên cứu này đã được cấp bằng “Giải pháp hữu ích” (HI 0097) của Cục sáng chế Việt Nam. Năm 2007, Viện đã có những kết quả nghiên cứu ban đầu về khả năng sinh các chất kháng khuẩn của một số chủng vi sinh vật biển được phân lập từ hải miên và san hô mềm. Đây là một hướng nghiên cứu ứng dụng mới có nhiều triển vọng. Hiện nay Viện đang thực hiện đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam “Nghiên cứu sự tích lũy độc tố tetrodotoxin trong một số sinh vật nuôi nhằm cảnh báo nguy cơ ngộ độc đối với con người thông qua việc sử dụng cá nóc làm thức ăn trong nuôi thủy sản” (2010 -2011). Đề tài được xây dựng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương, kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho việc sử dụng nguồn lợi cá nóc tự nhiên một cách hiệu quả và an toàn thực phẩm.

Trong giai đoạn 10 năm tới,Viện Hải dương học sẽ tập trung các hướng nghiên cứu chính trong nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ biển sau:

  • Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả và bảo tồn nguồn tài nguyên biển.
  • Nghiên cứu sinh sản nhân tạo nhằm phục hồi và phát triển các đối tượng sinh vật biển quý hiếm, có giá trị kinh tế cao đang có nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi.
  • Nghiên cứu chiết xuất các độc tố, hoạt chất sinh học có nguồn gốc từ sinh vật biển và ứng dụng chúng trong dược học, xử lý ô nhiễm môi trường và nuôi trồng thủy sản.

Từ nay đến năm 2020, Viện cần tiếp tục phát triển và tăng cường hợp tác quốc tế với một số nước có thế mạnh về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ biển: cụ thể với Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga: “kỹ thuật phục hồi rạn san hô”; với CHLB Đức: “chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nước và môi trường”; với Na Uy: “dự án nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu độc tố trong hệ sinh thái”. Đặc biệt cần tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ về “Công nghệ sinh học, chiết suất các hoạt chất sinh học từ sinh vật biển”; và với Tây Ban Nha: “Tìm kiếm các hợp chất chống ung thư trong động vật không xương sống và tảo biển” và “Phân lập vi sinh vật biển”.

Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Võ Sĩ Tuấn (Viện Hải dương học)

 

 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".