Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nấm côn trùng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên: nguồn tài nguyên quý cho các ứng dụng sinh học

.

Nấm côn trùng là nhóm nấm đặc trưng đã được nghiên cứu và ứng dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc để sản xuất thuốc chữa bệnh, các chất có hoạt tính sinh học và các enzyme. Đặc biệt, nhiều loài trong nhóm này được ứng dụng rộng rãi trong đấu tranh sinh học kiểm soát côn trùng và sâu hại cây trồng. Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu thành công trong việc sử dụng nấm côn trùng phòng trị các loại côn trùng và sâu hại cây trồng, điển hình như nấm Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana đã được ứng dụng trong phòng trừ mối nhà, sâu khoang hại cải xanh, sâu hại đậu tương và đậu xanh, rầy mềm và các loài sâu hại lúa….

Sự đa dạng và phân bố của các loài nấm côn trùng tùy thuộc vào điều kiện môi trường, tính đa dạng của các loài côn trùng và tình trạng của ký chủ. Ở các nước nhiệt đới có ẩm độ không khí cao cộng với sự đa dạng và phong phú của các loài côn trùng là điều kiện lý tưởng cho nấm côn trùng phát triển, đặc biệt là ở nước ta.


Một số hình ảnh nấm côn trùng ký sinh trên rệp sáp tại Vườn Quốc gia Cát Tiên.
A: Aschersonia badia; B: Aachersonia marginata; C: Aschersonia samoensis; D: Aschersonia oxystoma; E: Aschersonia placenta; F: Aschersonia confluens; G: Hypocrella siamensis; H: Moelleriella raciborskii; I: Hypocrella calendulina; J: Paecilomyces cinnamomeus; K: Conoideocrella tenuis; L: Moelleriella sp.; M: Khuẩn lạc Moelleriella sp. mọc trên môi trường PDA; N: Bào tử nang của Moelleriella sp.; O: Bào tử nang của Moelleriella sp. nẩy mầm trên môi trường sinh ra bào tử thứ cấp.

Để đánh giá được sự đa dạng và phân phố của các loài nấm côn trùng tại khu vực phía Nam và thu thập các mẫu nấm côn trùng để làm nguồn nguyên liệu cho các nghiên cứu và ứng dụng sinh học, từ năm 2005 đến nay, các nhà nghiên cứu phòng Vi Sinh Ứng Dụng thuộc Viện Sinh học Nhiệt Đới đã kết hợp với Trung tâm về Kỹ thuật di truyền và Công nghệ sinh học Quốc gia Thái Lan (BIOTEC) thực hiện khảo sát sự hiện diện và phân bố nấm côn trùng tại vườn quốc gia Cát Tiên. Trong quá trình thực hiện đề tài, các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều đợt khảo sát tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. Các mẫu nấm côn trùng được thu thập, định danh, phân lập và bảo quản như là nguồn nguyên liệu quý giá cho nghiên cứu và ứng dụng sau này.


Một số hình ảnh nấm côn trùng ký sinh trên các ký chủ khác nhau.
A: Ophiocordyceps unilateralis, B: Ophiocordyceps myrmecophila; C: Torrubiella sp.2; D: Isaria sp.; E: Paecilomyces lilacinus: F: Isaria tenuipes; G: Gibellula sp.2; H: Gibellula pulchra; I: Gibellula sp.1; J: Nomuraea atypicola; K: Hirsutella formicarum: L: Metarhizium sp.; M: Akanthomyces pistillariiformis; N: Hirsutella citriformis.

Một số kết quả nghiên cứu của đề tài

Trong đợt khảo sát năm 2007, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu tại bốn khu vực bao gồm khu vực từ văn phòng đến tuyến Bằng Lăng, tuyến Bằng Lăng, tuyến Cây gõ Bác Đồng, và 2 km dọc theo đường chính từ khu Thác Trời đến Bàu Sấu của vườn Quốc gia Cát Tiên. Tổng cộng có 259 mẫu nấm đã thu thập được trong thời gian khảo sát (Hình 1).

Hình 1: Số lượng mẫu thu được tại bốn khu vực khảo sát. Hình 2: Sự khác biệt về số lượng và tỉ lệ mẫu trên hai môi trường sống khác nhau.

Các mẫu nấm côn trùng thu được được phân bố trên hai môi trường sống chính (sinh cảnh) là trên mặt đất và trên lá cây bụi. Tổng số mẫu thu được trên mặt đất là 39 (tương ứng với tỉ lệ 15%) trong khi tổng số mẫu thu được trên lá cây rừng là 220 (tương ứng với tỉ lệ 85%) (Hình 2).

Kết quả sơ bộ phân loại và định danh hình thái cho thấy trong tổng số 259 mẫu thu được, có 41 loài được nghi nhận thuộc 17 chi nấm côn trùng bao gồm Akanthomyces, Aschersonia, Beauveria, Conoideocrella, Cordyceps, Gibellula, Hirsutella, Hymenostilbe, Hypocrella, Isaria, Metarhizium, Moelleriella, Nomuraea, Ophiocordyceps, Paecilomyces, Torrubiella và Verticillium. Tất cả các chi ghi nhận được đều thuộc ngành Ascomycota, bộ Hypocreales. Số lượng mẫu thu được ở mỗi chi là khác nhau (Hình 3), mẫu Aschersonia thu được nhiều nhất với 72 mẫu (chiếm tỉ lệ 27,8%). Trên thực tế, số loài nấm côn trùng có thể nhiều hơn nếu việc thu mẫu được lặp lại nhiều lần trong năm ở nhiều khu vực khác nhau của Vườn Quốc gia Cát Tiên.

Hình 3: Số lượng mẫu và số lượng phân lập của mỗi chi nấm côn trùng. Hình 4: Sự khác biệt về số lượng các chi, loài vô tính và hữu tính.

Số loài sinh sản vô tính (anamorph) được ghi nhận có sự khác biệt so với số loài sinh sản hữu tính (teleomorph) (Hình 4). Có 29 loài có hình thức sinh sản vô tính và 12 loài có hình thức sinh sản hữu tính. Tổng cộng có 8 bộ côn trùng và nhện được ghi nhận là ký chủ của các loài nấm côn trùng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên.

Việc phân lập được thực hiện ngay sau khi thu mẫu tại thực địa, một số mẫu được phân lập sau đó trong phòng thí nghiệm. 149 mẫu đã được phân lập thành công trong tổng số 259 mẫu thu được và được bảo quản với 10% glycerol trong tủ lạnh sâu ở điều kiện nhiệt độ -80oC. Đây là nguồn nguyên liệu sinh học quý giá cho việc nghiên cứu và các ứng dụng sau này.

Để biết rõ hơn kết quả nghiên cứu về nấm côn trùng tại vườn quốc gia Cát Tiên, xem tại đây.

Nguồn tin: Viện Sinh học Nhiệt đới
Xử lý tin: Minh Tâm

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".