Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Lũ quét – loại hình tai biến thiên nhiên gây thiệt hại nghiêm trọng ở Việt Nam

.

Lũ quét là một loại hình tai biến thiên nhiên đã và đang xảy ra ngày càng tăng ở các vùng đồi núi của nước ta. Bên cạnh những thiệt hại lớn về người và kinh tế mà lũ quét gây ra thì sự huỷ hoại môi trường sống là rất lớn. Trên lãnh thổ nước ta, nhiều trận lũ quét và lũ bùn đá lớn xảy ra làm thiệt hại rất lớn đến kinh tế - xã hội và môi trường cả vùng. Ví dụ như ở TT Phong Thổ (xảy ra nhiều năm), TP Lạng Sơn (1914, 1986), Đắc Lắc (1990), TX Lai Châu (1990), TP Sơn La (1991), TP Điện Biên Phủ (1975, 1994, 1996), TT Mường Lay (1996), Nậm Cuổi (Sìn Hồ, Lai Châu, 2000), TP Lào Cai (1971, 2002), Sa Pa (2000), TX Nghĩ Lộ (Yên Bái, 2005), Hương Khê, Hương Sơn (Hà Tĩnh, 2002, 2007), Du Tiến, xã Du Già (Hà Giang, 2004), Hàm Tân (Bình Thuận, 1999)....


Lũ quét phá hủy cầu Thia năm 2005, Yên Bái

Để giúp phòng tránh và làm giảm nhẹ thiệt hại do lũ quét gây ra, trong những năm vừa qua ở nước ta các nhà khoa học đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về lũ quét. Có thể kể đến các đề tài như: đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu nguyên nhân hình thành và các biện pháp phòng tránh lũ quét” (1990-1995) do PGS.TS. Cao Đăng Dư (Viện KH Khí tượng Thủy Văn) làm chủ nhiệm; đề tài cấp tỉnh và điều tra cơ bản “Điều tra đánh giá hiện tượng trượt lở-lũ bùn đá ở Lai châu và đề xuất biện pháp phòng chống” (1994-1996) do TSKH. Vũ Cao Minh – Viện Địa chất làm chủ nhiệm; đề tài cấp Trung tâm KH&CN quốc gia “Nghiên cứu cơ sở khoa học của sự hình thành và phát triển lũ lụt miền núi (trong đó có lũ quét) đề xuất các giải pháp cảnh báo, dự báo và giảm nhẹ cường độ thiên tai cùng các thiệt hại” (1998-1999) do TS. Trần Văn Tư – Viện Địa chất làm chủ nhiệm; đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng tai biến môi trường tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” (2003-2006) do GS.TS. Nguyễn Trọng Yêm làm chủ nhiệm; đề tài thuộc Bộ TN&MT “Điều tra, khảo sát, phân vùng và cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt Nam. Giai đoạn 1- Miền núi Bắc Bộ” (2008-2009) do TS. Lã Thanh Hà làm chủ nhiệm…. Bên cạnh đó, Viện KHCNVN cùng một số các Bộ đã tiến hành nhiều đề tài về thiên tai địa chất trong đó có nghiên cứu phân vùng lũ quét. Qua một số kết quả đạt được từ các đề tài nghiên cứu trên và các thành tựu nghiên cứu trên thế giới, các nhà khoa học Viện Địa chất - Viện KHCNVN đã rút ra một số nhận xét sau:

Về định nghĩa lũ quét

Cho đến nay các nhà khoa học tương đối thống nhất với định nghĩa lũ quét rất chung chung sau: “Lũ quét là một loại hình lũ miền núi có cường suất, vận tốc dòng chảy và biên độ mực nước rất lớn, lũ lên nhanh và xuống nhanh, dòng nước có lượng lớn bùn rác”.

Về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển lũ quét

Lũ quét hình thành và phát triển phụ thuộc vào tương quan giữa nguồn nước và mặt đệm dưới tác động của tự nhiên và nhân tạo theo sơ đồ sau đây:

Về phân loại lũ quét

Phân loại lũ quét được dựa trên sự đồng nhất về quy luật hình thành và phát triển. Các nhà khoa học của Viện Địa chất - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho đến nay vẫn đi đầu trong nghiên cứu phân loại lũ quét.

Lũ quét nghẽn dòng là loại hình lũ xảy ra với cường suất và vận tốc lũ tương đối lớn, biên độ lũ với độ sâu ngập lụt lớn và mang theo rất nhiều vật chất khác nhau (rác rưởi, bùn cát). Lũ được hình thành trên thung lũng sông mở rộng, trũng giữa núi hoặc cánh đồng Karst do dòng nước lũ bị tắc nghẽn (với nhiều nguyên nhân) sinh ra. Có thể kể ra các trận lũ quét nghẽn dòng xảy ra tại TP Điện Biên Phủ (1996), TX Sơn La (1989), trên suối Nam Cường (Bắc Cạn, 1981), TX Lạng Sơn (1986), Hương Khê, Hương Sơn (Hà Tĩnh, 2002, 2007), nhiều trận lũ quét xảy ra ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Lũ quét sườn là loại hình lũ với tốc độ dòng chảy rất lớn, lên xuống nhanh mang theo nhiều vật chất của sườn (Flash flood). Lũ quét sườn xảy ra chủ yếu trên sườn dốc tại các vùng tập trung nước mặt. Các trận lũ quét sườn đã xảy ra ở Quảng Ninh, Hoàng Liên Sơn, Bắc Trung Bộ.

Lũ bùn đá (mudflow, debrisflow) là một loại hình lũ quét sườn đặc biệt với dòng nước có lượng vật chất đậm đặc bùn đá và động năng lớn. Lũ bùn đá phát sinh từ thượng nguồn các suối nhỏ, hầu hết là phụ lưu bậc I, II, nơi đất đá bị trượt lở mạnh và tuôn chảy ra các cửa suối. Có thể kể ra những trận lũ bùn đá lớn đã xảy ra tại TT Mường Lay (Lai Châu, 1996), Du Tiến (Hà Giang, 2004),.... Theo phân loại truyền thống, chỉ khi mật độ đất đá trong dòng nước lớn hơn 60%, mới gọi là lũ bùn đá.

Lũ quét hỗn hợp là loại hình lũ xảy ra vận tốc dòng chảy lớn, cường suất lũ rất lớn chiều sâu ngập tương đối lớn. Lũ quét hỗn hợp có đặc trưng trung gian của lũ quét nghẽn dòng và lũ quét sườn. Đây là loại hình lũ quét xảy ra phổ biến ở miền núi và thường gây ra tổn thất lớn về người và của. Có thể kể ra các trận lũ quét hỗn hợp tại Quân Cây (Thái Nguyên, 1969); Nậm Cuổi (2000); xã Trường Sơn (Quảng Bình, 1993).... Một đặc điểm cơ bản là lũ quét hỗn hợp xảy ra trên trũng giữa núi kích thước vừa và nhỏ hoặc thềm tích tụ nằm trên sông có độ dốc lớn. Chú ý rằng từ lũ quét hỗn hợp ở đây khác với lũ quét hỗn hợp mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nó là hỗn hợp của lũ quét và lũ bùn đá.


Bãi đá sau trận lũ bùn đá tại Mường lay, 1996

Các biện pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do lũ quét

Với lũ quét nghẽn dòng và hỗn hợp ta có thể sử dụng bản đồ địa hình lớn hơn 1:50.000 và bản đồ dự báo mưa nhất là mưa rào để lập bản đồ dự báo. Thậm chí tại một khu vực có bản đồ địa hình tỷ lệ lớn có thể dự báo được độ cao mực nước lớn nhất của lũ quét nghẽn dòng và hỗn hợp.

Với lũ quét sườn và đặc biệt lũ bùn đá ta có thể cảnh báo nguy cơ xuất hiện dựa trên đánh giá điều kiện địa hình, địa chất, kiến tạo và dự báo mưa rào.

Để giảm nhẹ thiệt hại do lũ quét phải làm một số việc sau:

  • Lập bản đồ phân vùng dự báo và cảnh báo lũ quét với các tỷ lệ phù hợp;
  • Xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc phù hợp để kịp thời cứu hộ và chỉ đạo phòng tránh;
  • Xây dựng mạng lưới đo đạc thời tiết hợp lý để dự báo mưa trong lưu vực xảy ra lũ quét;
  • Xây dựng các công trình trong khu vực phải tính đến sự phát sinh và phát triển lũ quét;
  • Xây dựng các công trình công cộng hoặc các công trình hạ tầng đặc biệt có thể kết hợp sử dụng để phòng tránh lũ quét;
  • Tuyên truyền quảng bá để cộng đồng hiểu và phòng tránh loại hình thiên tai này.

Qua nghiên cứu có thể khẳng định rằng, hầu hết các khu vực tập trung kinh tế - xã hội ở miền núi (Các thành phố, thị xã, thị trấn, các làng bản) đã và sẽ xảy ra lũ quét. Vấn đề sống chung với lũ quét đặt ra cấp thiết. Do vậy nghiên cứu dự báo, cảnh báo và các biện pháp giảm nhẹ thiệt hại là một nhiệm vụ rất quan trọng với các nhà khoa học và quản lý các cấp.

Cung cấp tin: TS. Trần Văn Tư - Viện Địa Chất
Xử lý tin: Minh Tâm

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".