Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài cá cảnh có giá trị xuất khẩu

.

Ngày nay phong trào nuôi cá cảnh đang ngày càng phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp. Sự tăng trưởng trong lĩnh vực này đã giúp tăng nguồn thu nhập cho các cộng đồng cư dân vùng nông thôn và vùng ven biển, hải đảo ở các quốc gia đang phát triển, là cơ hội để giải quyết công ăn việc làm và thu lợi nhuận từ việc xuất khẩu.

Vùng biển miền Trung nước ta có nhiều đảo lớn nhỏ là nơi tập trung nhiều loài cá, san hô có giá trị về đa dạng sinh học. Đây là trung tâm cung cấp nguồn cá cảnh biển đến các hệ thống nuôi cá cảnh trong cả nước như Đầm Sen, Suối Tiên ở thành phố Hồ Chí Minh, hồ cá Trí Nguyên, Bảo tàng Viện Hải dương học (Nha Trang), Đà Nẵng, Hà Nội và đến cả những vùng cao nguyên như Đà Lạt, Gia Lai, Đắc Lắc... cũng như xuất khẩu sang một số nước như Liên Bang Nga, Nhật Bản, Singapore, Pháp, Mỹ và nhiều nước châu Âu khác. Những năm gần đây, nhu cầu cá cảnh cngày càng tăng của thị trường trong và ngoài nước đã thúc đẩy việc khai thác các loài cá cảnh và sinh vật cảnh ngoài tự nhiên.

Việc khai thác quá mức cùng với những phương pháp đánh bắt mang tính hủy diệt đã hủy hoại nơi cư trú và làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển. Từ đó gây những ảnh hưởng đáng kể đến tương lai nghề cá, nếu ngay từ bây giờ không có những biện pháp thiết thực để khắc phục. Do đó, việc nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm các loài cá cảnh biển là biện pháp tối ưu nhằm góp phần giảm bớt áp lực khai thác nguồn lợi tự nhiên, đồng thời tăng khả năng cung cấp cá cảnh biển cho thị trường trong nước và thế giới, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân lao động địa phương, tăng kim ngạch xuất khẩu.

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là nơi xuất khẩu chủ lực về cá cảnh, trong đó cá dĩa và cá chép chiếm từ 40 – 50%. Hầu hết chúng được nuôi và nhân giống bởi các nghệ nhân sống tại thành phố và các vùng ven đô, hằng năm cung cấp trên 500.000 con cá dĩa cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu (xuất khẩu chiếm 25%). Tuy vậy, do phát triển tự phát, kỹ thuật nuôi các hộ cũng khác nhau nên cá xuất khẩu thường ít đạt tiêu chuẩn và chưa tạo được uy tín với khách hàng. Đối với cá neon, nước ta chưa sản xuất được nhưng nhu cầu thị trường trong nước là rất lớn, hầu hết phải nhập khẩu.

Do ưu thế sản xuất với giá thành rẻ, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 500.000 cá chép koi đi các thị trường Mỹ, châu Âu, Nhật Bản... Nhưng sau sự kiện các nước châu Âu và châu Mỹ yêu cầu các nước xuất khẩu phải chứng minh được sản phẩm sạch bệnh vi rút mùa xuân (SVC) và (KHV), việc xuất khẩu cá chép của nước ta đã bị gián đoạn.

Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên, được sự quan tâm của nhà nước, đề tài KC 06.05/06-10 “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài cá cảnh có giá trị xuất khẩu” đã được tiến hành, tập trung nghiên cứu 6 đối tượng cá cảnh chính, trong đó có 3 loài cá cảnh biển gồm cá khoang cổ nemo, cá ngựa vằn, cá thia đồng tiền, và 3 loài cá cảnh nước ngọt là cá dĩa, cá neon và cá chép koi.


Đàn cá khoang cổ nemo sinh sản nhân tạo từ cặp cá bố mẹ

Đây là đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 do Viện Hải dương học chủ trì, TS. Hà Lê Thị Lộc làm chủ nhiệm đề tài, được thực hiện từ 12/2007 đến 11/2010. Các cơ quan cùng tham gia phối hợp thực hiện gồm có viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, trường đại học Cần Thơ và Hội cá cảnh thành phố Hồ Chí Minh.

Cá ngựa vằn con 1 tháng tuổi Cá ngựa vằn trưởng thành

Đề tài đã hoàn thiện được 5 qui trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm của 5 loài cá, gồm cá khoang cổ nemo, cá ngựa vằn, cá thia đồng tiền, cá dĩa cá neon. Đề tài đã ứng dụng di truyền trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chép koi toàn cái. Cả hai phương pháp chọn lọc kiểu hình cá mẹ và phương pháp mẫu sinh đều có thể tạo ra đàn cá chép koi con có kiểu hình như mong muốn.

Cá Chép Koi (Carp Koi)

Sơ đồ hệ thống thiết bị của 6 loài cá nghiên cứu đã được xây dựng trên cơ sở các kết quả sản xuất, tạo sản phẩm cho đề tài với qui mô 3.000 con cá thương phẩm/năm.


Cặp cá Dĩa bố mẹ

Một số bệnh thường gặp của 6 loài cá trong quá trình nghiên cứu đã được xác định và một số biện pháp phòng trị hữu hiệu đã được sử dụng có hiệu quả.


Hình cá neon trưởng thành

Sản phẩm của đề tài đã xuất khẩu sang thị trường cá cảnh Mỹ và các nước châu Âu, đã được thị trường các nước chấp nhận đối với loài cá khoang cổ nemo, cá ngựa và cá dĩa. Những loài còn lại đang được tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước.

TS. Hà Lê Thị Lộc, Viện Hải dương học
Xử lý tin: Quỳnh Trang

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".