Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiệm thu cấp Nhà nước Đề tài TN3/T27 “Nghiên cứu các giải pháp tổng hợp phục hồi và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên”

Toàn bộ rừng ở Tây Nguyên (cho dù được quy hoạch là rừng sản xuất - RSX, rừng phòng hộ - RPH, hay rừng đặc dụng - RĐD) đều có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước trong lưu vực của 4 hệ thống sông chính (sông Srê Pôk, sông Sê San, sông Ba và sông Đồng Nai). Rừng của Tây Nguyên quan trọng và nhạy cảm hơn nhiều so với rừng tại các vùng khác ở những điểm sau: Thứ nhất, rừng giúp các cộng đồng dân tộc nghèo đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu của mình. Thứ hai việc giải quyết các vấn đề đất đai và rừng ở Tây Nguyên góp phần rất lớn vào an ninh xã hội, giảm các xung đột dân tộc. Thứ ba, bảo vệ được rừng ở Tây Nguyên làm giảm nguy cơ thảm họa môi trường trong tương lai mà không ai có thể tiên đoán được. Để khuyến nghị và đề xuất hệ thống các giải pháp tổng hợp nhằm phục hồi và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn (RPHĐN) ở Tây Nguyên theo hướng bền vững và đa chức năng, nhóm các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Lâm sinh,Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành đề tài TN3/T27 “Nghiên cứu các giải pháp tổng hợp để phục hồi và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên” thuộc Chương trình Tây Nguyên 3, do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì. Đề tài được tiến hành trong thời gian từ 2013-2015, do PGS.TS. Trần Văn Con làm chủ nhiệm, và đã được Hội đồng KHCN cấp Nhà nước đánh giá đạt loại Khá tại phiên họp nghiệm thu vào ngày 10 tháng 5 năm 2016.

Ứng dụng dung dịch hoạt hóa điện hóa trong bảo quản nông sản, xử lý môi trường và vệ sinh các cơ sở y tế

Được coi là một nhánh kỹ thuật mới trong lĩnh vực công nghệ điện hóa, công nghệ hoạt hóa điện hóa (HHĐH) ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên trong những năm 1980-2000 đã thể hiện khả năng ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống với vai trò là chất khử trùng mạnh, có phổ khử trùng rộng nhưng không độc hại, thân thiện với môi trường. Trong hơn 40 năm qua, kể từ khi hiện tượng HHĐH được kỹ sư người Nga Bakhir Vitold Mikhailovich phát hiện, các thiết bị sản xuất dung dịch HHĐH đã được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong các cơ sở y tế, các nhà máy cấp nước sinh hoạt và xử lý nước thải, các trang trại chăn nuôi quy mô lớn, các cơ sở giết mổ trong chăn nuôi, các nhà máy chế biến thủy sản, các khu vực công nghệ cao trồng trọt và bảo quản chế biến rau, quả.

Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý, giám sát tài nguyên ở vườn quốc gia và một số khu bảo tồn thiên nhiên khu vực Tây Bắc bằng công nghệ viễn thám và GIS có sử dụng ảnh VNREDSat-1

Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 nêu mục tiêu: Hoàn thành xác định ranh giới, cắm mốc các phân khu chức năng và vùng đệm của các khu rừng đặc dụng; phân định rõ ràng diện tích đất quy hoạch cho các mục đích khác với diện tích quy hoạch cho hệ thống rừng đặc dụng nhằm phát triển hài hoà công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn các loài sinh vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Và Ban hành quy định hướng dẫn kiểm tra, giám sát tài nguyên rừng và đa dạng sinh học trong khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng trái phép.

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám giám sát hạn hán ở Tây Nguyên

Ở Tây Nguyên, trong mùa khô năm 2013, chỉ tính riêng với hai cây trồng cà phê và hồ tiêu, tổng diện tích bị ảnh hưởng do hạn hán đã lên tới 84.887 ha, trong đó diện tích bị mất trắng là 245,3 ha. Việc giám sát hạn hán là rất quan trọng, trong đó, số liệu chính xác để đánh giá những tác động và giám sát quá trình của hạn hán là then chốt. Phương pháp truyền thống trong giám sát và đánh giá hạn hán dựa vào số liệu mưa còn hạn chế vì trong khu vực không có trạm quan trắc mưa, và điều quan trọng là khó thu được số liệu trong thời gian thực. Ngoài ra, hạn hán thường xảy ra trên diện rộng, việc quan trắc bằng các phương pháp truyền thống rất khó khăn, nhất là khi thiếu đầu tư cho hệ thống quan trắc bề mặt. Vì thế, những số liệu vệ tinh quan trắc trái đất (EOS) đang được các nước trên thế giới sử dụng hiệu quả, và rất đáng được quan tâm trong việc đánh giá và giám sát hạn hán ở nước ta.

Phát hiện một loài rắn mới ở Côn Đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu

Các nhà khoa học Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn Quốc gia Côn Đảo và Bảo tàng Hoàng gia Ontario, Canada vừa phát hiện và mô tả một loài rắn mới tại Vườn Quốc Gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Loài rắn mới này được đặt tên là rắn Khiếm Côn Đảo Oligodon condaoensis, theo  địa danh thu mẫu để mô tả loài mới.

Nghiên cứu và chế tạo hệ thiết bị phát điện thông minh từ các nguồn năng lượng mới và tái tạo

Theo tính toán của các nhà khoa học, với tốc độ sử dụng năng lượng như hiện nay, nhiên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt trong vòng 50 năm tới. Việc tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế đang là bài toán cấp bách của toàn nhân loại. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp, trong đó kinh tế biển chiếm trên 50% GDP.  Nhu cầu về năng lượng đáp ứng nền kinh tế, đặc biệt kinh tế biển, là cực kỳ quan trọng. Do vậy, phát triển các hệ thiết bị phát điện từ các nguồn năng lượng mới và tái tạo  là lựa chọn khả thi cho bài toán thiếu hụt năng lượng,  góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng tại các vùng sâu, vùng biển và hải đảo, nơi điện lưới quốc gia không thể vươn tới. Hơn nữa, nguồn năng lượng tái tạo luôn thân thiện với môi trường, không gây ra hiệu ứng nhà kính cũng như ảnh hưởng đến môi trường như các nguồn năng lượng truyền thống đang sử dụng.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".