Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Đánh giá xu thế biến đổi khí hậu trên khu vực Tây Nguyên

Nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu) chủ trì thực hiện đề tài TN3/T25 "Nghiên cứu điều kiện khí hậu nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phòng tránh thiên tai vùng Tây Nguyên" từ tháng 01/2013. Đây là đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 (Chương trình do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì).

Nghiệm thu cấp Nhà nước Đề tài TN3/C01 “Nghiên cứu phát triển và ứng dụng một số chế phẩm có nguồn gốc sinh học trong canh tác chè, cà phê, hồ tiêu theo hướng phát triển bền vững tại Tây Nguyên”

Mục tiêu vì một nền nông nghiệp hữu cơ an toàn với việc tăng cường sử dụng các sản phẩm sinh học (phân bón hữu cơ, thuốc trừ dịch hại sinh học) đang là xu hướng chung của nước ta cũng như các nước trên thế giới. Ở vùng đất đỏ Tây Nguyên, chè, cà phê và hồ tiêu là những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực và mang tính chiến lược. Trong nhiều năm tới, những cây trồng này vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế khu vực. Trong thực tế sản xuất, việc tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm đã khó, việc giữ được thị trường còn khó hơn nhiều. Muốn ổn định được thị trường, điều cốt lõi là phải đảm bảo được chất lượng hàng hóa nông sản. Với định hướng như vậy, trong thời gian từ tháng 11/2011 đến 4/2015, được sự giúp đỡ, chỉ đạo của Chương trình Tây Nguyên 3, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm Phát triển công nghệ cao chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển và ứng dụng một số chế phẩm có nguồn gốc sinh học trong canh tác chè, cà phê, hồ tiêu theo hướng phát triển bền vững tại Tây Nguyên” do ThS Nguyễn Thị Thu làm chủ nhiệm. Đề tài đã được Hội đồng KHCN cấp Nhà nước đánh giá đạt loại Khá tại phiên họp nghiệm thu vào ngày 16/3/2016.

Nghiệm thu cấp Nhà nước Đề tài TN3/T27 “Nghiên cứu các giải pháp tổng hợp phục hồi và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên”

Toàn bộ rừng ở Tây Nguyên (cho dù được quy hoạch là rừng sản xuất - RSX, rừng phòng hộ - RPH, hay rừng đặc dụng - RĐD) đều có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước trong lưu vực của 4 hệ thống sông chính (sông Srê Pôk, sông Sê San, sông Ba và sông Đồng Nai). Rừng của Tây Nguyên quan trọng và nhạy cảm hơn nhiều so với rừng tại các vùng khác ở những điểm sau: Thứ nhất, rừng giúp các cộng đồng dân tộc nghèo đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu của mình. Thứ hai việc giải quyết các vấn đề đất đai và rừng ở Tây Nguyên góp phần rất lớn vào an ninh xã hội, giảm các xung đột dân tộc. Thứ ba, bảo vệ được rừng ở Tây Nguyên làm giảm nguy cơ thảm họa môi trường trong tương lai mà không ai có thể tiên đoán được. Để khuyến nghị và đề xuất hệ thống các giải pháp tổng hợp nhằm phục hồi và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn (RPHĐN) ở Tây Nguyên theo hướng bền vững và đa chức năng, nhóm các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Lâm sinh,Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành đề tài TN3/T27 “Nghiên cứu các giải pháp tổng hợp để phục hồi và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên” thuộc Chương trình Tây Nguyên 3, do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì. Đề tài được tiến hành trong thời gian từ 2013-2015, do PGS.TS. Trần Văn Con làm chủ nhiệm, và đã được Hội đồng KHCN cấp Nhà nước đánh giá đạt loại Khá tại phiên họp nghiệm thu vào ngày 10 tháng 5 năm 2016.

Ứng dụng dung dịch hoạt hóa điện hóa trong bảo quản nông sản, xử lý môi trường và vệ sinh các cơ sở y tế

Được coi là một nhánh kỹ thuật mới trong lĩnh vực công nghệ điện hóa, công nghệ hoạt hóa điện hóa (HHĐH) ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên trong những năm 1980-2000 đã thể hiện khả năng ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống với vai trò là chất khử trùng mạnh, có phổ khử trùng rộng nhưng không độc hại, thân thiện với môi trường. Trong hơn 40 năm qua, kể từ khi hiện tượng HHĐH được kỹ sư người Nga Bakhir Vitold Mikhailovich phát hiện, các thiết bị sản xuất dung dịch HHĐH đã được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong các cơ sở y tế, các nhà máy cấp nước sinh hoạt và xử lý nước thải, các trang trại chăn nuôi quy mô lớn, các cơ sở giết mổ trong chăn nuôi, các nhà máy chế biến thủy sản, các khu vực công nghệ cao trồng trọt và bảo quản chế biến rau, quả.

Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý, giám sát tài nguyên ở vườn quốc gia và một số khu bảo tồn thiên nhiên khu vực Tây Bắc bằng công nghệ viễn thám và GIS có sử dụng ảnh VNREDSat-1

Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 nêu mục tiêu: Hoàn thành xác định ranh giới, cắm mốc các phân khu chức năng và vùng đệm của các khu rừng đặc dụng; phân định rõ ràng diện tích đất quy hoạch cho các mục đích khác với diện tích quy hoạch cho hệ thống rừng đặc dụng nhằm phát triển hài hoà công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn các loài sinh vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Và Ban hành quy định hướng dẫn kiểm tra, giám sát tài nguyên rừng và đa dạng sinh học trong khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng trái phép.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".