Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiên cứu tạo chất hoạt hoá bề mặt sinh học từ vi sinh vật biển nhằm ứng dụng trong các ngành công nghiệp và xử lý môi trường

Hiện nay, ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là ô nhiễm biển do dầu mỏ là vấn đề lớn được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm dầu ven biển như do quá trình khai thác dầu trên biển, sự rò rỉ dầu từ các phương tiện lưu thông trên biển, từ dầu thải của các công trình trên biển, từ hoạt động của các nhà máy đóng tàu ven biển, hay từ các sự cố đâm va tàu trên biển. Để bảo vệ và làm sạch môi trường, người ta đã nghiên cứu và áp dụng thành công nhiều phương pháp, trong đó phương pháp dùng các chất hoạt hoá bề mặt sinh học (CHHBMSH) do các vi sinh vật tạo ra để tăng cường khả năng phân huỷ các hydrocacbon của dầu mỏ đang được đánh giá cao bởi các đặc tính ưu việt của nó như: xử lí triệt để, an toàn cho môi trường và giá thành thấp.

Tiềm năng và giải pháp khai thác địa nhiệt cho phát triển năng lượng sạch tái tạo ở Việt Nam

Địa nhiệt: một nguồn tài nguyên vô tận – nguồn năng lượng tái tạo có ở mọi nơi

Trái đất là một động cơ nhiệt khổng lồ, nhiệt độ trong nhân đạt tới hơn 4.000oC, dòng nhiệt thóat ra trung bình 60 mW/m2, cung cấp một nhiệt lượng tới mặt đất gấp hàng tỷ lần nhu cầu của thế giới. Ở các vùng núi lửa hoạt động và rift, ở độ sâu 1 -2 km tồn tại các bồn nhiệt thế cao 200 - 300oC đã được khai thác để phát điện ở hơn 20 nước (Mỹ, Philipin, Indonesia,…) với tổng công suất khoảng 10 GW. Cơ sở khoa học – công nghệ mới hiện nay về hệ địa nhiệt hoàn thiện (EGS – Enhanced Geothermal System) và hệ thống hai chu kỳ ORC (Organic Rankin Cyrcle) và Kalina cho phép phát điện địa nhiệt với nhiệt độ 100oC, nên khai thác địa nhiệt có khả năng thực hiện trên phạm vi rộng ở hầu hết mọi nơi. Ở hầu hết các lục địa gradient nhiệt trung bình 2,5 -3oC/100m, nên ở độ sâu 4 km luôn có nhiệt độ trên 100oC, có thể khai thác được bằng kỹ thuật công nghệ hiện có. Các nguồn nước nóng, bùn nóng xuất lộ trên mặt đất là nơi có điều kiện địa chất thuận lợi chỉ thị bồn địa nhiệt thường có nhiệt độ cao hơn 100oC ở độ sâu không lớn.

35 năm nghiên cứu và phát triển thuốc trừ sâu sinh học Bacillus thuringiensis tại Việt Nam

Trong 35 năm nghiên cứu và phát triển thuốc trừ sâu sinh học Bacillus thuringensis (Bt) tại Việt Nam nói chung và của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng, các nhà khoa học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu, sản xuất thuốc trừ sâu sinh học Bt và đưa những kết quả nghiên cứu đó ứng dụng vào đời sống sản xuất, góp phần giảm thiệt hại kinh tế cho ngành nông lâm nghiệp.

Pin nhiên liệu Methanol lỏng (DMFCs)

Vào đầu thế kỷ 21 như cầu năng lượng toàn cầu tăng nên rất lớn, những nguồn năng lượng truyền thống như hóa thạch, thủy điện…không đáp ứng được nhu cầu phát triển với đòi hỏi về mô trường và sự biến đổi khí hậu. Các nước phát triển trên thế giới đang phải nghiên cứu và phát triển những nguồn năng lượng thay thế như năng lượng mặt trời, gió, pin nhiên liệu, với đòi hỏi ít phát thải khí carbonic ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu, người ta gọi đó là nền kinh tế carbon thấp.

Thêm một loài Rắn mai gầm mới cho khoa học thuộc giống Calamaria được phát hiện ở Việt Nam

Một loài rắn mới vừa được công bố (dựa trên mẫu chuẩn thu thập tại tỉnh Thừa Thiên - Huế) trên tạp chí Bò sát và Ếch nhái Nga (Tập 17, số 3) bởi các nhà nghiên cứu của Viện Động vật Xanh Pê-tec-bua (Nga), Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Bảo tàng Thiên thiên Việt Nam. Loài mới thuộc giống Rắn mai gầm có tên khoa học là Calamaria concolor Orlov, Nguyen, Nguyen, Ananjeva & Ho, 2010. Tên loài có nguồn gốc là một từ La-tinh “concolor” có nghĩa là đồng màu nhằm mô tả đặc điểm đặc trưng về màu sắc cơ thể của loài rắn này.

Nghiên cứu sản xuất và ứng dụng kháng thể đơn dòng trong chẩn đoán và điều trị bệnh ở người

Do tác động của điều kiện sống, tỷ lệ mắc bệnh ung thư ngày một tăng. Những năm gần đây, mỗi năm Việt Nam phát hiện khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới, nhiều nhất là ung thư phổi, ung thư vú và bạch cầu. Từ những năm 90 của thế kỷ trước, kháng thể đơn dòng đã được ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư. Phương pháp sản xuất kháng thể đơn dòng chủ yếu được thực hiện theo phương pháp tạo tế bào hybridoma của Kohler và Milstein (1975). Tuy nhiên, quy trình sản tạo tế bào hybridoma là phức tạp, kháng thể sản xuất ra có giá thành cao và hơn thế nữa khi ứng dụng trong điều trị lại gặp những trở ngại về tính hiệu quả do chúng có bản chất từ chuột. Vì vậy, để khắc phục vấn đề này các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật gen để tạo kháng thể đơn dòng dạng ghép và các kháng thể có bản chất hoàn toàn của người . Kháng thể dạng ghép đã làm tăng hiệu quả điều trị và giảm hiện tượng HAMA.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".