Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Giáo sư trẻ tuổi nhất Việt Nam năm 2017 thuộc Viện Toán học - Viện Hàn lâm KHCNVN

Trong 2 ngày 31/1 và 1/2/2018, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN) đã xét duyệt, bỏ phiếu tín nhiệm ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2017. Theo đó, danh sách ứng viên đã đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2017 có 85 người đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư và 1141 người đạt tiêu chuẩn chức danh phó giáo sư. Người trẻ tuổi nhất được phong giáo sư năm 2017 là PGS.TSKH Phạm Hoàng Hiệp, sinh ngày 01/03/1982 tại Hải Dương thuộc Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Giáo sư Phạm Hoàng Hiệp cũng từng là người trở thành Phó giáo sư (PGS) trẻ nhất Việt Nam khi mới 29 tuổi.

Hợp tác khoa học công nghệ giữa Viện Hàn lâm KHCNVN và tỉnh Hà Giang

Chiều 31/1/2018, UBND tỉnh Hà Giang phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức “Hội nghị phối hợp hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Giang”; Đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên BCH TƯ Đảng, Bộ trưởng Bộ KH&CN và đồng chí Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đồng chủ trì Hội nghị.. Về phía Viện Hàn lâm KHCNVN có sự tham dự của GS.TSKH.Nguyễn Đình Công, Phó Chủ tịch Viện; TS.Hà Quý Quỳnh, Trưởng Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ và đại diện lãnh đạo một số đơn vị trực thuộc.

Nghiên cứu sản xuất giống, bảo tồn và phát triển nguồn lợi Ngán (Austriella Corrugata) tại Quảng Ninh

Ngán (Austriella corrugata) là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ có kích thước tương đối lớn, sống ở khu vực rừng ngập mặn vùng dưới triều với nền đáy chủ yếu là bùn cát. Ngán có thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, có giá trị kinh tế rất cao, được nhiều người ưa chuộng và là đặc sản của vùng ven biển Quảng Ninh. Hiện nay, nguồn cung cấp Ngán cho thị trường đều từ khai thác ngoài tự nhiên. Thị trường tiêu thụ Ngán ngày càng gia tăng, nên Ngán tự nhiên bị khai thác ngày càng nhiều, dẫn đến nguồn lợi ngày càng bị cạn kiệt, suy giảm nghiêm trọng. Vì thế, cần nghiên cứu và nắm vững đặc điểm sinh học, sinh học sinh sản, điều kiện môi trường sống của Ngán, để có những dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi, sản xuất giống nhân tạo, từng bước chuyển từ khai thác  tự nhiên thành nghề sản xuất,  nâng cao thu nhâp cho ngư dân ven biển, đồng thời đa dạng hóa giống vật nuôi có giá trị, bảo tồn đa dạng sinh học.

Nghiên cứu xác định chỉ số xáo trộn môi trường karst khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Karst là một dạng cảnh quan môi trường đặc biệt, có thể mang lại nhiều nguồn lợi về kinh tế, khoa học, giáo dục, giải trí và thẩm mỹ. Cảnh quan môi trường karst đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử phát triển Trái đất. Với những giá trị nổi bật, nhiều khu vực karst trên thế giới đã được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Tuy nhiên nguồn tài nguyên thiên nhiên này lại dễ bị tổn thương, đặc biệt dễ bị tác động bởi các hoạt động nhân sinh. Hiện nay, với tốc độ phát triển  đô thị hóa nhanh đi kèm với các nhu cầu văn hóa giải trí cao, nhiều hoạt động nhân sinh đang diễn ra trên bề mặt và karst ngầm, dẫn tới nguy cơ xáo trộn môi trường karst và đe doạ phá hủy nguồn tài nguyên này. Chính vì vậy, công tác nghiên cứu bảo tồn các khu vực karst luôn được quan tâm đầu tư. Chỉ số xáo trộn môi trường karst (KDI) được sử dụng lần đầu tiên vào năm 2005 nhằm đánh giá toàn bộ tác động của con người tới cảnh quan karst-môi trường karst. KDI đã và đang được áp dụng hiệu quả trong việc xác định các mối đe dọa môi trường karst và là công cụ hữu hiệu cho công tác hoạch định chính sách bảo vệ các khu vực karst.

Nghiên cứu quá trình chế biến quặng apatit Lào Cai loại II thành các chế phẩm hóa chất theo phương pháp hóa học thân thiện với môi trường

Ở Việt Nam, quặng apatit Lào Cai loại II là một nguồn tài nguyên phốt phát lớn chưa được sử dụng nhiều trong công nghiệp (khoảng 1% sản lượng khai thác để sản xuất phân lân nung chảy và sản xuất photpho vàng), tất cả các quá trình công nghệ của các nhà máy sản xuất phân bón supe phốt phát đơn (Lâm Thao, Long Thành, Lào Cai, ...), sản xuất phân bón điamoni phốt phát (DAP) (Đình Vũ, Lào Cai), sản xuất đicanxi phốt phát (DCP) cấp thức ăn chăn nuôi (Phúc Lâm, Đức Giang Lào Cai) đều phải sử dụng loại quặng phốt phát cao cấp (quặng apatit Lào Cai loại I, tinh quặng tuyển nổi từ quặng apatit Lào Cai loại III). Hơn nữa, chúng đang gây ô nhiễm môi trường (phế thải photphogip, nước chứa axit flohydric vượt tiêu chuẩn, ...).

Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm chế phẩm vi sinh và chế phẩm sinh học chitosan để phòng trừ bệnh và tăng năng suất cây hồ tiêu

Hồ tiêu là một trong 10 cây công nghiệp chính và có giá trị hàng hoá cao trên đất nâu đỏ bazan của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Tuy nhiên, sản xuất hồ tiêu hiện nay đang phải đối mặt với một thách thức lớn do hồ tiêu bị bệnh chết nhanh, chết chậm,… Đất trồng hồ tiêu ngày càng kém dinh dưỡng, hệ vi sinh vật hữu ích trong đất giảm, cây trồng ngày càng suy yếu tạo điều kiện cho sâu bệnh hại phát sinh ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".