Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Đánh giá tiềm năng địa chấn lãnh thổ Việt Nam theo tổ hợp các tài liệu địa chất – địa vật lý và địa chấn

Nằm gần nơi tiếp xúc giữa hai vành đai hoạt động địa chấn lớn nhất trên trái đất (vành đai Thái Bình Dương và vành đai Địa Trung Hải – Hymalaya), lãnh thổ Việt Nam ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng bởi hoạt động kiến tạo của hai vành đai này. Các tài liệu lịch sử cũng như tài liệu điều tra thực địa cho thấy ở nước ta đã xảy ra nhiều trận động đất mạnh đến cấp 7 và cấp 8 như ở Bắc Đồng Hới (năm 114), Hà Nội (các năm 1277, 1278, 1285), Nho Quan (1635), Nghệ An (1821), Phan Thiết (1882, 1887). Nếu tính từ năm 1900 đến nay, Việt Nam đã có 2 trận động đất cấp 8 ở Điện Biên (1935), Tuần Giáo (1983), 17 trận động đất cấp 7 và 115 trận cấp 6, 7 ở khắp các vùng miền. Động đất có thể gây ra lở đất, nứt đất, hoả hoạn, sóng thần, … và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người. Những dẫn liệu lịch sử về động đất tại Việt Nam nêu trên và những thiệt hại mà động đất có thể mang lại cho thấy nghiên cứu dự báo động đất đã trở thành nhiệm vụ cấp bách, trong đó, nghiên cứu đánh giá tiềm năng địa chấn, nhằm tìm ra các vùng phát sinh động đất mạnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng.

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất kháng thể đơn dòng (Monoclonal Antibody) để chẩn đoán nhanh bệnh virus trên tôm nuôi

Nhằm phục vụ cho công tác chẩn đoán bệnh virus đốm trắng hiện đang gây thiệt hại lớn cho ngành nuôi tôm Việt Nam, Viện Công nghệ Sinh học (Viện KH&CN VN) đã nghiên cứu thành công trong việc ứng dụng tạo những dòng tế bào lai hybridoma sản xuất kháng thể đơn dòng kháng protein vỏ VP28 của virus đốm trắng (WSSV) để sản xuất que thử nhanh virus WSSV.

Nghiên cứu ứng dụng vật liệu chitosan trong y sinh và môi trường

Chitosan/chitin là một polisacarit mạch thẳng, có nguồn gốc tự nhiên, tập trung nhiều trong vỏ các loài thủy sản giáp xác như tôm, cua, mai mực. Nó có khả năng hòa hợp và tự phân hủy sinh học, độc tính thấp, hoạt tính sinh học cao và đa dạng như kháng khuẩn, kháng nấm, tăng sinh tế bào, tăng cường miễn dịch của cơ thể với các tác dụng kích thích sản sinh bạch cầu, giảm cholesterol trong máu, hạn chế sự phát triển của khối u, có tác dụng tốt trên các vết thương, vết bỏng. Trên thế giới, việc ứng dụng chitosan trong các lĩnh vực y sinh và xử lý môi trường đã được phát triển mạnh mẽ. Tại Việt Nam, Phòng Polyme thiên nhiên, Viện Hóa học, Viện KHCN VN là một trong những cơ sở đầu tiên nghiên cứu ứng dụng thành công chitosan trong các lĩnh vực này.

Theo hướng nghiên cứu chung đó, trên cơ sở đặc thù về chuyên môn là nghiên cứu đặc trưng và ứng dụng vật liệu nano, nhóm nghiên cứu tại Phòng Vật liệu Nano Y sinh, Viện Khoa học Vật liệu, Viện KHCN VN đã phối hợp với Phòng Công nghệ các chất có hoạt tính sinh học, Viện Hóa học tiến hành nghiên cứu ứng dụng của chitosan cấu trúc nano trong y sinh học (chế tạo hệ dẫn thuốc, gốm y sinh…) và xử lý môi trường (kháng khuẩn, hấp phụ kim loại nặng).

Loài Hổ ở Việt Nam

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở về trước, hổ Việt Nam phân bố ở khắp các vùng rừng núi, thậm chí cả ở vùng trung du và hải đảo. Những nơi nổi tiếng có nhiều hổ là Ba Chẽ (Quảng Ninh), Quản Bạ (Hà Giang), Dốc Cun (Hòa Bình), Mường Nhé (Lai Châu), Ba Rền, U Bò, Trúc (Quảng Bình), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Phú Yên, Khánh Hòa, KBang (Gia Lai), Sa Thầy (Kon Tum). Theo ghi nhận trong báo cáo của Chính phủ Việt Nam tại diễn đàn Hổ năm 2004, hổ Việt Nam chỉ còn ở 17 tỉnh và đang phải sinh sống trong các khu rừng bị chia cắt và xuống cấp nghiêm trọng. Hổ Việt Nam có tên khoa học là Panthera tigris corbettii hay gọi là hổ Đông dương, được tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) xếp vào loài rất nguy cấp (CR). Ước tính ở Việt Nam hiện nay có ít hơn 50 cá thể ngoài tự nhiên (CITES Việt Nam, 2010) và theo các chuyên gia bảo tồn nhận định đến năm 2015 phân loài hổ Đông dương có thể "biến mất" nhanh hơn bất kỳ một phân loài hổ nào khác.

Nghiên cứu tác dụng của băng nano bạc lên quá trình điều trị vết thương bỏng

Ngoài khả năng diệt khuẩn được biết đến từ lâu, nano bạc với năng lượng bề mặt lớn còn có khả năng điều tiết quá trình chữa trị vết thương bằng cách phát triển các cytokin chuyên hỗ trợ điều trị, hoặc ức chế các cytokin chuyên hỗ trợ viêm, cho phép rút ngắn thời gian điều trị, đồng thời làm cho vết thương sau điều trị đạt giá trị thẩm mỹ cao, không để lại di chứng. Các nhà khoa học Viện Công nghệ môi trường (Viện KHCN VN) đã đạt được một số kết quả tốt đẹp về nghiên cứu chế tạo và ứng dụng băng nano bạc điều trị vết thương bỏng.

Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu cao su blend tính năng cao trong lĩnh vực hàng hải và thủy lợi

Từ vài chục năm trở lại đây, vật liệu cao su blend được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng nhiều trong hầu khắp các lĩnh vực kinh tế kỹ thuật. Trong đó, được ứng dụng nhiều nhất trước hết phải kể đến các loại vật liệu cao su blend trên cơ sở cao su thiên nhiên (CSTN) với một số cao su tổng hợp hay một số nhựa nhiệt dẻo, thông qua đó đã góp phần nâng cao tính năng cơ lý, kỹ thuật, mở rộng phạm vi ứng dụng cho CSTN. Tuy nhiên, loại vật liệu này có những hạn chế nhất định như kém bền dầu mỡ, môi trường và do vậy ảnh hưởng tới khả năng ứng dụng của nó. Chính vì vậy, để chế tạo các sản phẩm cao su dùng cho các lĩnh vực kỹ thuật cao người ta thường dùng các loại cao su tổng hợp có những tính năng đặc biệt phù hợp với ứng dụng cụ thể hay blend của các loại cao su, nhựa tổng hợp như blend của cao su nitril butadien (NBR) với nhựa polyvinylclorua (PVC) có khả năng bền dầu mỡ, môi trường và bền chống cháy hay vật liệu blend của NBR với cao su clopren (CR)...

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".